Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân vật chức năng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân vật chức năng. Hiển thị tất cả bài đăng

BEGHEMOTH: NHÂN VÂT HỀ KIỂU CARNAVAL



Carnaval là một truyền thống dân gian của châu Âu, bắt nguồn từ những lễ hội cổ xưa nhất như Saturnalia, kéo dài suốt thời kì Trung cổ và Phục hưng châu Âu. Carnaval gắn với truyền thống hề châu Âu, với những đặc điểm thống nhất về tạo hình, về mối quan hệ với không gian và thời gian, về các hình thức trình diễn, về chức năng. Nghệ thuật carnaval trở thành thủ pháp đặc trưng được Bulgakov sử dụng một cách đầy sáng tạo để xây dựng tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita.

3.1. Hề Beghemot trong không-thời gian và đường biên hoạt động carnaval

3.1.1. Hề Beghemot và tính mở rộng đường biên của không-thời gian carnaval

Theo Bakhtin, trong thời gian carnaval, cuộc sống carnaval và cuộc sống đời thường phá vỡ đường biên và hòa nhập vào nhau. Cuộc sống thì chơi giỡn, còn sự chơi giỡn nhất thời trở thành bản thân cuộc sống. Anh hề chính là cầu nối giữa hai thế giới đó. Sự hiện diện của anh hề không hẳn là diễn trò, mà cũng không hoàn toàn là cuộc sống thường nhật. Nói cho chính xác, anh hề diễn như đang sống, và sống như đang diễn. Ở sự tồn tại của anh hề, ta thấy sự nhập nhằng giữa thật và giả, những hoạt động sinh hoạt đời thường được cường điệu như diễn trò, còn từ những trò diễn ta lại bắt gặp những vấn đề rất đời thường. Không-thời gian có tính chất carnaval mà Bulgakov xây dựng trong tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita đã mở rộng đường biên hoạt động của anh hề Bghemot đến vô tận.
Bakhtin đã đưa ra khái niệm về thời-không-gian trong sáng tác tiểu thuyết. Đó khái niệm để chỉ không gian và thời gian được tổ chức một cách đặc biệt trong tiểu thuyết. Chất liệu ngôn từ với tính chất phi vật thể của hình tượng ngôn từ đã giúp cho tác giả có khả năng gần như vô hạn trong việc xây dựng không gian và thời gian. Việc xây dựng không gian, thời gian trong tác phẩm văn học bao giờ cũng gắn liền với một dụng ý nghệ thuật. Thời-không-gian làm bật lên ý nghĩa chủ đề tác phẩm và toàn bộ các yếu tố tình tiết, nhân vật, sự kiện đều quy tụ về trục thời-không-gian này. Trong toàn bộ tác phẩm Nghệ nhân và Margarita, đặc biệt là phân cảnh “Đại vũ hội của chúa quỷ Satan”, điểm hội tụ và cũng là cao trào của ba tuyến truyện, các yếu tố không gian và thời gian đều gắn với cảm quan carnaval, trở thành không gian chơi của thế giới chơi, mà quy luật chơi chính là carnaval – nghịch dị.
Thời giantrong toàn bộ tác phẩm Nghệ nhân và Margaritathời gian lễ hội. Ở tuyến truyện Kinh thánh, đó là thời gian của lễ Vượt qua với sự kiện Iesua bị bắt và bị hành quyết. Ở tuyến truyện Moscow, sự vận động cốt truyện cũng diễn ra từ chiều thứ tư tới lúc mặt trời lặn của thứ bảy thời gian của lễ Phục Sinh, đỉnh điểm của nó là vào thứ sáu (thời gian xảy ra Vũ hội của quỷ Satan), thời điểm trong Kinh thánh xảy ra cái chết của Jesus được xem là lúc Satan có quyền lực mạnh mẽ nhất. Theo quan điểm của Stenbock – Fermor: “Lí do Bulgakov chọn ngày thứ sáu là ngày các sự kiển đạt đến đỉnh điểm và đặt ra mốc “khủng hoảng” cho cốt truyện là bởi vào thứ sáu cái chết của Chúa đã đem đến cho quỷ cơ hội điều khiển thế giới – hay nói cách khác đó là “chiến thắng” tạm thời của quỷ. Theo đó, vào ngày thứ sau trước lễ Phục sinh, những linh hồn chết được ra khỏi hầm mộ, xuất hiện trước con người và Satan biết rằng hắn có rất ít thời gian (đêm thứ bảy quỷ phải rời khỏi trái dất và quay về địa ngục) nên phải nỗ lực thể hiện sức mạnh”. Như vậy có thể thấy, Voland và đoàn tùy tùng (trong đó bao gồm cả nhân vật hề Beghemot) cũng chính là lũ quỷ trong quỷ kịch của lễ hội giả trang. Quỷ kịch là một phần của thánh kịch, thuộc phạm trù sân khấu và có đường biên phân biệt rõ ràng đối với hiện thực. Nhưng trong thời gian lễ hội, trước mỗi vở thánh kịch, các diễn viên đóng vai quỷ có thể đi giễu hành khắp nơi để thu hút sự chú ý. Ở thời gian lễ hội, đường biên sân khấu và đường biên đời sống vượt thoát giới hạn và hòa lẫn vào nhau. Đoàn quỷ đi đến đâu, không khí lễ hội carnaval sẽ ngập tràn đến đó. Cũng giống như Voland và đoàn tùy tùng mang đến những màn hắc ảo thuật kì ảo đến sân khấu “carnaval mới”– Moscow và thực hiện những thử nghiệm của mình. Thời gian lễ hội tạo điều kiện cho Voland và đoàn tùy tùng thực hiện chức năng của mình trong tác phẩm, cũng có nghĩa, nó là điều kiện để thủ pháp carnaval được kích hoạt và phát huy tác dụng.
Thời gian lễ hộichính là thời gian đặc trưng của cảm quan carnaval. Đây là khoảng thời gian mà đời sống hội giả trang diễn ra, và không ai sống trong khoảng thời gian này có thể khước từ đời sống đó. Đó là khoảng thời gian con người có thể đạt tới sự dân chủ và tự do không tưởng, nơi tất cả mọi người vứt bỏ thân phận cá nhân hằng ngày, vứt bỏ mọi lớp mặt nạ xã hội, đeo lên mặt nạ hội giả trang và trở về với là một phần thân xác toàn dân, cảm thấy mình với tư cách là con người giữa nhân loại, hoàn toàn tự do, bình đẳng và không sợ hãi. Tính tự do, dân chủ tuyệt đối đó được bảo trợ bởi chính thời gian lễ hội thông qua các truyền thống chính thống, đó là tiếng cười phục sinh, tiếng cười giáng sinh. “Truyền thống cổ xưa cho phép ngày lễ phục sinh được cười đùa và pha trò thậm chí trong nhà thờ” (7,135), “người ta hát trong nhà thờ những bài hát có nội dung cực kì thế tục. Các bài thánh ca được hát theo những môtíp phàm tràn, thậm chí “vỉa hè” (7,136).  Chính trong thời gian lễ hội ấy, các màn hắc ảo thuật của Voland và đoàn tùy tùng dường như hoàn toàn tự do và không giới hạn: có thể tác động vào cả không gian và thời gian. Thiên Chúa không thể can thiệp vào cuộc hành trình này mà chỉ có thể gửi thông điệp đến chúa quỷ Voland thông qua Levi Matvei. Sự bảo trợ ấy cũng cho phép những người dân Moscow tự giải thoát bản thân khỏi nỗi sợ hãi và sự kiểm duyệt từ bên trong để trở về với trạng thái tự do nguyên thủy khi tham gia những màn hắc ảo thuật của Voland và đoàn tùy tùng.
Về không gian, trước tiên cần kể đến tính chất song trùng, đan xen của các không gian khác nhau khi thời gian carnaval diễn ra. Vũ hội giả trang là sự phá vỡ các đường biên, nơi cuộc sống thứ hai, carnaval xảy ra song song với cuộc sống thứ nhất, cuộc sống thường ngày. Đường biên giữa hai cuộc sống đó bị phá vỡ, hòa trộn vào nhau. Bakhtin cho rằng: “Chúng (những nghi lễ carnaval – người viết) tựa hồ xây dựng nên mặt bên kia của tất cả những gì là chính thống một cuộc sống thứ hai và cuộc sống thứ hai mà tất cả những con người trung cổ đề ít nhiều tham dự, đều sống ở đó trong khoảng thời gian nhất định. Đây là trạng thái hai thế giới đặc thù”(7,26), “Những con người thời trung cổ tham dự ngang nhau vào hai đời sống – đời sống chính thống và đời sống hội giả trang, và hai bình diện của thế giới – nghiêm trang – sùng kính và vui cười. Hai bình diện đó đồng tồn tại trong nhận thức của họ.” (7, 161). Chính “trạng thái hai thế giới đặc thù” đó đã quyết định sự tổ chức không gian theo các tuyến truyện như là những thế giới đan xen vào nhau. Theo trục thời gian lịch đại, đó là không gian Kinh thánh và không gian ở Moscow những năm 1930. Theo Nguyễn Thị Như Trang, hai không gian này được nối kết nhờ những hình ảnh tương đồng: những con ngõ, mặt trăng, mặt trời, ánh sáng của các ngọn đèn. Theo thời gian đồng đại, ở Moscow tồn tại hai không gian thực và ảo (không gian huyễn tưởng, chiều không gian thứ năm). Hai không gian này được nối kết bởi căn hộ của Berlioz, nơi ở của Voland tại Moscow. Không gian huyễn tưởng được kết nối với không gian Kinh thánh bởi chính Voland và đoàn tùy tùng, những nhân vật đã sống trong tất cả không gian với cùng một nhiệm vụ: quan sát và tìm hiểu bản chất của con người theo chiều dài lịch sử.
Thời-không gian carnaval được Bulgakov xây dựng như một sân khấu nhỏ để lật tẩy “sân khấu carnaval mới” -  xã hội Moscow. Đó là sân khấu bảo trợ cho tên hề, trao cho hắn quyền năng để lộn ngược mọi trật tự đời sống. Tên hề tham gia, một cách trực tiếp và gián tiếp vào cả ba tuyến truyện. Hắn tham gia vào cuộc trừng phạt các nhân vật quan liêu ở Moscow với các hình thức bạo lực, đánh đập đặc trưng của carnaval; hắn là kẻ quản trò thay mặt chúa quỷ Voland tổ chức buổi Đại vũ hội, dẫn đến phán quyết số phận tất cả, trả lại công bằng cho Nghệ nhân, giải phóng cho Pilat. Quyền năng của tên hề, trong sân khấu đặc trưng ấy, có thể nói là không biên giới. Ngoài các trò hắc ảo thuật đậm chất kì ảo, tên hề thậm chí còn phá vỡ mối quan hệ thứ bậc để tự ý hành động trong những trò phiêu lưu cuối cùng đến Moscow, không hề thông qua Voland. Thậm chí, tên hề còn có thể giễu nhại, biến chúa quỷ Voland thành một trò vui đùa, cười nhạo cái thiêng và cái nghiêm. Phát ngôn của tên hề hoàn toàn không bị giới hạn, hắn tự do và toàn quyền bảo vệ sự thật, bất chấp ý thức hệ và các quy tắc thông thường, hắn nói lên sự thật về tội ác của Phrida bất chấp lòng thương cảm của Margarita; hắn tuyên bố về tư cách đích thực của người nghệ sĩ “Tôi phản đối! Dostoevski bất tử!” (13, 643), bất chấp mọi lớp vỏ hào nhoáng của giới văn nghệ Soviet. Tóm lại, thời gian và không gian carnaval chính là sự phá vỡ mọi lằn ranh cuộc sống, anh hề tồn tại ở những đường biên nhập nhằng ấy, và được trao cho quyền năng lộn trái mọi quy luật

3.1.2. Hề Beghemot và tính giễu nhại của không-thời gian carnaval

Trong ba không gian đan xen đó thì có thể thấy tính chất carnaval ở không gian huyễn tưởng, nơi diễn ra màn “Đại vũ hội của chúa quỷ Satan” là đậm đặc nhất. Buổi vũ hội ấy có tính chất như một cao trào hội giả trang trước khi kết thúc, nó quy tụ toàn bộ các hình tượng nghịch dị của carnaval, nó cũng là cao trào của toàn bộ tác phẩm khi những sự phán xử cuối cùng dành cho các nhân vật quan trọng chuẩn bị được định đoạt. Đó là không gian có tính chất quảng trường. Trước hết là ở sự rộng lớn của nó: đủ sức chứa cho dàn nhạc hàng trăm người, có ba bể chứa rượu lớn, một chiếc lò sưởi khổng lồ “đến mức một cỗ xe tải năm tấn có thể thoải mái đi lại vào cái mõm đen ngòm và lạnh ngắt của nó”, một bể tắm “to đến quái dị với hàng cột tròn bao quanh”, một bức tượng Hải Vương khổng lồ phun từ miệng ra cột nước lớn màu hồng. Không gian quảng trường đó có sự bài trí sắp đặt của một sân khấu kịch trường trung cổ, với sân khấu vũ hội và chiếc lò lửa khổng lồ tượng trưng cho địa ngục, một biểu tượng không thể thiếu trong các vũ hội carnaval, vừa có tính chất hủy diệt, vừa có tính chất tái sinh.
Carnaval chính là sự lộn trái của hiện thực. Ở đó, cuộc sống thì chơi giỡn còn sự chơi giỡn nhất thời trở thành bản thân cuộc sống. Trong không gian đại vũ hội của chúa quỷ carnaval, mọi quy luật đời sống đều đảo lộn, các trật tự thường thấy đều bị phá vỡ. Không gian Kinh thánh có nhiều tiềm năng để xây dựng những chi tiết kì ảo, nhưng Bulgakov lại xây dựng tuyến truyện này với các yếu tố hiện thực đầy chất bi kịch, Iesua, người được lấy nguyên mẫu từ chúa Jesus hiện lên chỉ là một người bình thường với lý tưởng cao đẹp và đức tin vào cái Thiện của con người. Trái lại, không gian Moscow thì đầy rẫy những hiện tượng kì ảo, quái dị, mà kết tinh đậm đặc nhất chính là trong màn đại vũ hội. Sự bài trí như vậy gợi lên trạng thái không ổn định, đầy bất thường của xã hội Moscow đương thời, một “sân khấu carnaval mới”. Sự lộn trái không gian diễn ra theo chiều dọc: vũ hội rơi từ trên xuống dưới dạng ánh sáng, màu sắc, âm thanh; dàn nhạc bay trên không trung và âm thanh dội từ trên xuống. Sự hủy diệt biến thành sự tái sinh: Lò lửa đốt xác thịt thành xương, thành tro, thì trong vũ hội, từ lò lửa cho ra những bộ xương, từng bộ xương trở thành những người sống tham gia vũ hội. Thiện ác cũng đảo lộn: khách tham gia vũ hội toàn là những kẻ giết người, hoang dâm, phản bội… nhưng tất cả đều nhận được lời khen ngợi và sự đón tiếp niềm nở từ Margarita, Beghemot và Koroviev. Ngôn ngữ trong không gian này cũng bị đảo lộn: lời khen trở thành mặt trái của lời chê, và lời chê trách mắng chửi có thể trở thành lời khen tặng, âu yếm.
Thời – không gian trong cảnh “Đại vũ hội của chúa quỷ Satan” còn thể hiện tính chất giễu nhại. Có một sự tương đồng giữa vũ hội của quỷ Satan và cảnh buổi sáng điên loạn ở nhà Griboedov. Cùng không gian nửa đêm, cùng có đám đông cuồng loạn nhảy theo điệu “Halleluia”, nếu ở nhà Griboedov chứa cái xác không đầu của Berlioz thì ở dạ vũ quỷ xuất hiện phần còn lại của cái xác đó, cái đầu. Tính chất nhại giữa hai không gian dẫn đến một sự liên tưởng tương đồng, phải chăng những kẻ nghệ sĩ trong nhà Griboedov kia cũng chẳng khác gì những con quỷ trong đêm vũ hội, cùng nhảy múa dưới điệu nhạc ca ngợi chúa nhưng tâm hồn hướng về quỷ, với sự ích kỉ, đố kị, lòng tham và tội ác?
Tính chất nhại còn thể hiện ở chỗ, những gì xảy ra không không gian và thời gian đại vũ hội quỷ , chính là một sự mô phỏng những sự kiện xảy ra trong cuộc đời Chúa Jesus. Trong Kinh thánh có đề cập đến bữa tiệc ở Nước Trời nơi mọi người từ bốn phương hội tụ và hô vang “Halleluia” ca ngợi chúa. “Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa. Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót”  (Luke, 13: 29 – 30). Sau đó, tôi nghe như có tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên: “Halêluia!/Thiên Chúa ta thờ là Ðấng cứu độ,/Ðấng vinh hiển uy quyền!” (Khải Huyền, 19:1-6). Vũ hội quỷ cũng là một bữa tiệc với đám đông nhảy múa hạnh phúc dưới khúc ca “Halleluia”. Tuy vậy, sự mô phỏng của vũ hội quỷ có tính chất lộn ngược. Trong bữa tiệc cuối cùng, Chúa Jesus đưa rượu cho những tông đồ và nói rằng đó là máu của ngài, thì dạ vũ quỷ có chi tiết biến máu của kẻ do thám trở thành rượu đãi thế gian. Nếu bữa tiệc trên thiên đường của Chúa không chấp nhận những kẻ “hèn nhát, bất trung, đáng ghê tởm, sát nhân, gian dâm, làm phù phép, thờ ngẫu tượng, và mọi kẻ nói dối”(Khải huyền, 5: 8)  thì chính những kẻ đó là nhân vật khách mời của dạ tiệc quỷ. Nếu bữa tiệc của chúa trên thiên đường chỉ tràn ngập ánh sáng vĩnh cửu, “Sẽ không còn đêm tối nữa, họ sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời” (Khải huyền, 22: 5), thì vũ hội quỷ diễn ra vào 12 giờ đêm nơi không còn ánh sáng tự nhiên nào, và toàn bộ ánh sáng của vũ hội đều là hắc ảo thuật của quỷ. Việc quỷ giễu nhại hệ thống của Chúa có thể lí giải dưới góc độ tôn giáo, đó là một mưu chước của quỷ (trong thời gian quỷ chiến thắng tạm thời) để tạo ra một ảo ảnh thiên đường và đánh cắp linh hồn con người. Nhưng trong Nghệ nhân và Margarita, tính chất giễu nhại xảy ra trong không gian và thời gian vũ hội có ý nghĩa tư tưởng: quỷ chính là hình ảnh phản chiếu trong tấm gương lộn ngược của Chúa, địa ngục chính là hình ảnh phản chiếu lộn ngược của thiên đường, cái ác cũng chính là hình ảnh lộn ngược của cái thiện. Cái thiện và cái ác luôn sóng đôi, định nghĩa lẫn nhau và tồn tại bên trong mỗi con người.
Trong không gian đảo lộn đậm chất giễu nhại ấy, tên hề trình diễn các trò nhại của mình. Hắn giễu nhại đủ loại giọng nói trong xã hội. Hắn đóng vai một viên quan hách dịch, rồi lại đóng vai một công dân Moscow tội nghiệp. Sự đóng vai của hắn có tính chất bắt chước và châm biếm, để đả phá những tệ lậu trong xã hội đương thời: sự sợ hãi và câm lặng của công dân Moscow, tình trạng sùng bái giấy tờ, sự hách dịch chuyên quyền của quan chức, tình trạng đối xử bất công tồn tại trong xã hội… Thông qua đó, Beghemot truyền tải quan niệm của Bulgakov về con người và xã hội.

3.2. Hề Beghemot trong tạo hình nghịch dị của carnaval

3.2.1. Tạo hình nghịch dị kiểu hai cơ thể trong một cơ thể

Beghemot là một tên hề được xây dựng dưới thủ pháp nghịch dị. Nó được miêu tả là “to như con lợn đực thiến, “đen như bồ hóng”, “một con mèo đen rất béo”, “những cặp chi mũm mĩm”, “bước vào phòng hóa trang bằng hai chân sau”. Thực chất, tạo hình Beghemot chính là tạo hình của cơ thể nghịch dị carnaval, kiểu hình tượng cơ thể nửa thú, nửa người (trạng thái hai cơ thể trong một cơ thể). Như chúng ta đã biết, cơ thể nghịch dị carnaval là cơ thể toàn dân và không ngừng phá vỡ giới hạn của chính mình. Nó hấp thu vũ trụ và bị vũ trụ hấp thụ, chính vì thể nó xuất hiện dưới dạng nửa người (phần cơ thể con người) và nửa thú (phần vũ trụ) – biểu tượng cho tình trạng không hoàn bị vừa sinh sôi, vừa hủy diệt. Trong quan hệ với thời gian, cảm quan carnaval đoạn tuyệt với quá khứ hoàn kết, nó luôn hướng tới tương lai. Trong quan hệ với không quan, cảm quan carnaval là một sự phá vỡ mọi đường biên giữa các thế giới. Bakhtin viết: “Một trong những khuynh hướng chủ yếu của hình tượng nghịch dị tựu trung lại cho thấy hai thân thể trong môt thân thể: một thân thể đang sinh nở và đang tiêu vong, thân thể khác đang thụ thai, đang ấp ủ và được sinh ra”, “từ trong một thân thể, dưới hình thức này hay hình thứuc khác, bao giờ cũng phình ra một thân thể mới, khác” (7, 61).“Thân thể biểu lộ bản chất của mình như một nhân tố luôn luôn phát triển và vượt ra ngoài ranh giới của mình […] đó là thân thể luôn luôn chưa hoàn tất, luôn luôn được tạo lập và tự nó tạo lập, đó là một khâu trong chuỗi xích phát triển chủng loại (giống nòi)”(7, 61). Trạng thái hai cơ thể trong một cơ thể thể hiện ở hai hình thức biến thân của Beghemot: con mèo khổng lồ đi hai chân, và người đàn ông béo  lùn có bộ mặt mèo. Đó chính là hai trạng thái của một cơ thể, khi phần cơ thể người và vũ trụ phá vỡ đường biên, hòa trộn vào nhau. Có lúc, cơ thể người ở vị trí cơ thể sinh ra, còn cơ thể vũ trụ ở vị trí cơ thể chết đi (người đàn ông mặt mèo). Và ngược lại trong trường hợp con mèo đi hai chân như người.
Tạo hình nghịch dị của Beghemot còn thể hiện tính chất phồn sinh ở sự béo tốt, mũm mĩm, gắn với thói tham ăn. Sự to béo, phương phi – thói tham ăn – cái bụng to đã trở thành những đặc điểm truyền thống của carnaval, nó tượng trưng cho ước muốn phồn vinh, thừa mứa vật chất. Trường hợp tương tự được Bakhtin phân tích, đó chính là nhân vật Sancho Pansa trong tiểu thuyết Don Kijote của Cervantes. “Cái bụng phệ của Sancho, thói tham ăn, tục uống của hắn về bản chất còn mang tính chất hội giả trang sâu sắc, lòng ham muốn giàu sang no đủ đến “nứt đố đổ vách” của hắn về bản chất còn chưa mang tính cá nhân ích kỷ riêng lẻ - đó là lòng ham muốn sự phồn thịnh dư thừa của cải của toàn dân. Sancho là con cháu trực tiếp của yếu tố phồn thực cổ xưa” (7, 54). Cho nên, dù Bulgakov không miêu tả cái bụng của Beghemot, nhưng trong hình dung của bạn đọc, và trong các tranh minh họa về nhân vật này, Beghemot luôn được vẽ với cái bụng to tròn. Đối với người trung cổ, thế giới được sắp xếp theo chiều dọc, cụ thể như sau:

Nguyên tố
Cơ thể người
Xã hội
Thượng tầng
Lửa
Đầu
Giai cấp thống trị
Hạ tầng
Đất
Bụng, hậu môn, bộ vật sinh dục
Nhân dân

Cái bụng chính là phần hạ tầng, nó gắn với nguyên tố đất, và nó gắn với nhân dân. Cái bụng thu về trong mình cả sự sinh sôi và sự hủy diệt, nó là bể chứa sự sống nơi quá trình hấp thu vũ trụ và bị vũ trụ hấp thu được diễn ra cùng lúc. Trong thần thoại Hy Lạp, Cronus đã nuốt chửng những đứa con của mình, để ngăn chặn lời tiên tri về sự soán ngôi, nhưng cũng chính cái bụng của mẹ Rhea đã cứu Zeus, ươm mầm cho sự cách mạng trong thế giới thần. Rõ ràng, cái bụng có ý nghĩa của sự sinh sôi và sự hủy diệt. Cái bụng gắn liền với tính cách tham ăn, tục uống. Đó là một đặc điểm nổi bật của Beghemot. Trong mọi chuyến phiêu lưu nghịch ngợm của mình, Beghemot luôn nhắm đến những quầy thực phẩm. Bulgakov đã nhiều lần nhấn mạnh vào hành động ăn uống của nhân vật này. “Beghemot cắt một miếng dứa, chấm muối, rắc ớt, ăn xong và tợp gọn một cách rất ngang tàng cốc rượu cồn thứ hai, làm tất cả phải vỗ tay hoan hô.” ,“Người đàn ông to béo kẹp bếp dầu xuống dưới nách, nhót lấy một quả ở trên cùng của ngọn kim tự tháp xây bằng quít, và sau khi nhai ngấu nghiến cùng với vỏ, anh ta lại túm lấy quả thứ hai”, “nuốt chửng quả quít thứ ba”.Cảm quan carnaval giúp con người chiến thắng mọi nỗi sợ hãi, trong đó có những nỗi sợ hãi nguyên thủy nhất: vũ trụ và cái chết. Bằng việc đeo mặt nạ và trở thành một bộ phận hữu cơ của thân xác toàn dân, con người được trao cho nguồn sức sống cân bằng với sự hấp thụ vô biên của vũ trụ, cảm nhận được sự bất tử của thân xác toàn dân, nơi cái chết là một phần của sự sống. Con người chiến thắng nỗi sợ vũ trụ, vì nhận ra rằng mình cũng là một phần của vũ trụ. Họ nhận ra các nguyên tố của vũ trụ trong cơ thể mình, như đất, nước, khí… Hoạt động ăn uống (trao đổi chất) chính là dấu hiệu rõ ràng minh chứng cho sự hiện diện của vũ trụ trong cơ thể con người. Mỗi con người đều đang bị vũ trụ hấp thu, nhưng qua hành động ăn uống, nó cũng hấp thu vũ trụ. Hai quá trình này xảy ra đồng thời và cân bằng làm nên sự sinh sôi bất tận.

3.2.2. Tạo hình nghịch dị của Beghemot và ý nghĩa hồi sinh thế giới

Cảm quan carnaval mang đến sự hồi sinh của thế giới. Hội giả trang mang đến một cách nhìn tự do và phóng khoáng đối với vũ trụ và con người. Ý nghĩa hồi sinh nằm ở chỗ, carnaval phá vỡ tính tuyệt đối của mọi quan niệm, hạ bệ mọi sự hoàn kết, trả vũ trụ và lịch sử về với bản chất chưa hoàn kết và không ngừng phát triển của nó. Sự hồi sinh thế giới chính là bản chất của hề. Hề đại diện cho sự hỗn loạn, trong mối quan hệ biện chứng với trật tự. Beghemot là mèo hay là người? Hoạt động của hắn là các sinh hoạt đời thường hay là những trò diễn? Sự bất phân của các khái niệm hội tụ trong tạo hình của hề làm đảo lộn mọi quan niệm thông thường của con người. Đó là điều kiện cơ bản cho sự hồi sinh thế giới trong quan niệm của con người. Tạo hình nghịch dị của Beghemot khiến nó gây được sự thu hút mạnh mẽ của mọi người xung quanh, chính từ đó nó sống với vai trò anh hề của mình trong tác phẩm. Theo Bakhtin, trong thời gian carnaval, cuộc sống carnaval và cuộc sống đời thường phá vỡ đường biên và hòa nhập vào nhau. Cuộc sống thì chơi giỡn, còn sự chơi giỡn nhất thời trở thành bản thân cuộc sống. Anh hề chính là cầu nối giữa hai thế giới đó. Sự hiện diện của anh hề không hẳn là diễn trò, mà cũng không hoàn toàn là cuộc sống thường nhật. Nói cho chính xác, anh hề diễn như đang sống, và sống như đang diễn. Ở sự tồn tại của anh hề, ta thấy sự nhập nhằng giữa thật và giả, những hoạt động sinh hoạt đời thường được cường điệu như diễn trò, còn từ những trò diễn ta lại bắt gặp những vấn đề rất đời thường. “Những nhân vật như anh hề và những chàng ngốc rất đặc trưng cho văn hóa trào tiếu trung cổ. Họ dường như là đại diện thường trực của nhân tố hội hè giả trang được kí thác vào cuộc sống thường nhật (phi hội hè) […]. Với tư cách những anh hề và chàng ngốc, họ là chủ thể của một hình thức sống  đặc biệt, hình thức vừa hiện thực lại vừa lý tưởng. Họ sống nơi giới tuyến giữa cuộc sống và nghệ thuật (tựa hồ khu vực giáp ranh đặc biệt): đó không đơn thuần là những người lập dị hoặc ngốc nghếch (theo nghĩa đời thường), song cũng không phải là những diễn viên hài kịch” (7,30). Tính chất nửa hư – nửa thực của anh hề carnaval thể hiện rất rõ trong nhân vật Beghemot. Các hành động tưởng như bình thường nhất, như đi xe điện, như uống nước, như nói năng, khi được thực hiện bởi con mèo đen béo phệ đi hai chân, nó trở nên hết sức đáng kinh ngạc đối với người chứng kiến, và nó trở thành trò diễn. Trong màn hắc ảo thuật, Bulgakov đã viết: “Nhưng con mèo đã trình diễn một tiết mục còn ngoạn mục hơn cái trò thó đồng hồ của người khác. Đột ngột nó rời đi văng đứng dậy, nó đi bằng hai chân sau đến bên chiếc bàn cạnh tấm gương đứng, dùng một chi trước rút chiếc nắp ra khỏi bình đựng nước, rót ra cốc nước, uống cạn, rồi đặt nắp bình vào chỗ cũ, lấy khăn hóa trang ra lau mấy sợi ria ướt”. Tất cả những người chứng kiến cảnh ấy đều “há hốc mồm, không ai thốt lên lời nào”. Rõ ràng, “trò diễn” uống nước của Beghemot không khó khăn gì để đạt được hiệu quả trình diễn đầy thuyết phục. Một cảnh khác, Beghemot ăn ngấu nghiến một miếng dứa, và các nhân vật trong đoàn tùy tùng đồng loạt vỗ tay tán thưởng. Thân xác nghịch dị đã khiến những hoạt động sống của tên hề trở thành những trò diễn, tính chất kì khôi, quái dị, hài hước trở thành một thuộc tính tồn tại của hề.
Sự hồi sinh thế giới biểu hiện ở việc thay đổi quan niệm về cái đẹp. Sự nghịch dị, hiểu theo nghĩa mỹ học, là một cách thức phá vỡ những khuôn vàng thước ngọc của chủ nghĩa cổ điển. Còn đối với chủ nghĩa lãng mạn, nghịch dị là mỹ học của cái xấu. Victor Hugo cho rằng: “Một khía cạnh quan trọng tạo nên cái nghịch dị là tính xấu xí, dị hình. Mỹ học về cái nghịch dị phần lớn là mỹ học về cái xấu” (7, 87). Thực chất, nghịch dị không phải là cái xấu, mà nó là cái đẹp. Trái ngược với khuôn vàng thước ngọc của chủ nghĩa cổ điển, cái đẹp của nghịch dị là một cái đẹp chưa hoàn kết, một cái đẹp hướng đến thì tương lai. Hay nói cách khác, cảm quan carnaval lộn trái mọi logic và khái niệm thông thường về cái đẹp. Trong màn đại vũ hội, Beghemot tỏ ra rất nghiêm túc với bộ trang phục kì lạ của mình, “giờ trên cổ con mèo là một chiếc cà vạt thắt nơ trắng, còn trước ngực áo đeo lủng lẳng cặp ống nhòm phụ nữ khảm ngọc trai. Ngoài ra, bộ ria của nó được mạ vàng.”, hàng loạt các quy chuẩn về lễ phục bị lộn nhào, giới tính, sự lịch thiệp, tính nghi thức… Nó xác lập một quy chuẩn mới về cái đẹp, một quy chuẩn đang hình thành, chưa hoàn kết, và hướng đến tương lai.
Như vậy, tạo hình nghịch dị của tên hề Beghemot không chỉ mang lại tiếng cười, mà quan trọng hơn, thông qua việc lộn trái mọi quy luật thông thường của thế giới, nó giải phóng thế giới quan của con người, giúp họ nhìn thế giới thực tại mình đang sống như một khả thể, từ đó tạo điều kiện cho việc tái sinh những thế giới mới. “Hình tượng nghịch dị nảy sinh từ văn hóa trào tiếu dân gian thực chất luôn luôn – dưới hình thức này hay hình thức khác, bằng phương tiện này hay phương tiện khác – trình diễn một cuộc tái hồi trên trái đất thế kỉ hoàng kim của thần Saturn, khả năng sống động của một sự tái hồi như thế […]. Thế giới hiện hữu bỗng nhiên hóa xa lạ […]. Thế giới hiện hữu phá vỡ để hồi sinh và đổi mới. Thế giới vừa tiêu vong vừa nảy sinh” (7, 95). Nó “Giải thoát con người khỏi mọi hình thức của cáic tất yếu phi nhân đã ngấm sâu vào những quan niệm truyền thống về thế giới. Cái nghịch dị đã hạ uy tín của cái tất yếu, cho thấy nó như một cái gì tương đối và hữu hạn”. (7, 97). Bởi tiếng cười mà tên hề mang lại, không thuần túy giải trí, mà nó có tính chất triết học.

3.3. Hề Beghemot và những hình thức nghi lễ - diễn trò carnaval và ngôn ngữ quảng trường

Nghệ thuật carnaval là thủ pháp đặc trưng xây dựng nên tên hề Beghemot. Hội giả trang là sự tổng hòa của những nghi thức đa dạng: các màn bạo lực, các nghi thức hội hè dân gian, các hình thức giễu nhại… Các nghi thức này đều mang đậm tính suồng sã quảng  trường, một kiểu quan hệ đặc trưng của carnaval. Những nghi thức carnaval cũng chính là các trò diễn của hề Beghemot.

3.3.1. Vai trò của Beghemot trong các nghi thức hạ bệ và tấn phong

Bakhtin trong Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa Trung cổ và Phục hưng đã ghi lại một nghi thức đánh đập trong lễ cưới, các vị khách đeo mặt nạ và đánh đập người được chỉ định là “nhân vật của vở hề kịch”. “Bản thân hành động đánh đập mang tính chất hội hề và trang trọng: nó được tiến hành trong bữa tiệc, trong âm thanh của trống phách đám cưới, âm thanh thay đổi âm điệu khi trận đòn kết thúc và bắt đầu cao trào mới của vở tiệc tùng”. (7,326). Các đòn đánh nghi thức có tính chất phồn sinh, nó tiêu diệt (có mức độ) những cái cũ và tạo dựng những cái mới. Những màn đánh đập, bạo lực của hội giả trang, cũng chính là một trò diễn của tên hề.
Những trò đánh đập, chửi rủa của carnaval có tính chất vui vẻ, hội hè. Nó là biểu hiện cho mối quan hệ suồng sã trong không gian quảng trường. Trong màn Đại vũ hội, Beghemot nhại lại màn bắn súng của Azazello, bắn trúng tay của Ghella, “Ghella, một bàn tay chảy máu, hét lên túm chặt lấy lông mèo, còn Beghemot đáp lại bằng cách túm lấy tóc Ghella, cả hai cuộn tròn lăn trên sàn nhà. Một chiếc cốc rơi từ mặt bàn xuống, vỡ tan.” (11,509), và rồi họ nhanh chóng làm hòa, chứng minh cho sự hòa hảo của mình bằng những cái hôn. Rõ ràng, Beghemot và Ghella vừa diễn lại những nghi thức đánh đập của quảng trường. Không khí quảng trường, nơi mọi người đều đeo mặt nạ và bình đẳng, làm nảy sinh một hình thức giao tiếp suồng sã đặc trưng. Đó là những lời nói suồng sã, những lời chửi và lời khen trộn lẫn, những tiếng rao chợ búa quảng trường, những lời thề độc. Đó là hành động đánh đập và các hành vi bạo lực. Sau những hành vi bạo lực, đánh đập ấy, sự vui vẻ được hồi sinh, chúng thắt chặt mối quan hệ giữa người và người.
Những nghi thức bạo lực, đánh đập, còn là một sự hạ bệ đối với thế giới phi hội hè, với những tư tưởng chính thống. Đoàn tùy tùng của quỷ Voland (đám giễu hành quỷ kịch khắp đường phố Moscow) đã tác động quyền năng hội giả trang lên những nhân vật quan chức quan liêu của Moscow bằng những nghi thức bạo lực, đánh đập. Beghemot, trong hình dạng người mặt mèo, đã tát Varenukha và hất rơi chiếc mũ của hắn. Một trường hợp nghi thức đánh đập với mục đích trừng phạt khác, đó chính là màn chặt đầu Begalski trong buổi trình diễn hắc ảo thuật. Việc chặt đầu là biểu hiện của thủ pháp hạ bệ - thủ pháp quan trọng của vũ hội giả trang. Thủ pháp hạ bệ có tính chất trắc đạc, nó đòi hỏi sự rõ ràng và dễ nhận biết. Người trung cổ nhìn nhận thế giới theo chiều dọc, với vũ trụ thì trên là trời, dưới là đất; với con người thì trên là đầu, dưới là bộ phận sinh dục, là hậu môn. Hạ bệ tức là đảo lộn trật tự, chặt đầu cho rơi xuống đất chính là một sự lộn trái, kéo cái ở trên xuống dưới. Cái đầu là trí tuệ, là nơi để tư duy, chặt đầu của kẻ bảo thủ xuống là sự phủ nhận tư tưởng, là cách thức chôn vào đất những gì thủ cựu, độc tài. Begalski bị trừng phạt, bởi hắn ta cố sử dụng ngôn từ giảo hoạt của mình để lèo lái hiện thực theo quan điểm ý thức hệ xã hội Soviet. Phủ định hắc ảo thuật, phủ định mọi sự huyền bí chính là hệ quả của tư tưởng phủ định Chúa trời.
Cái tư tưởng mà Begalski đang cố rêu rao chính là tư tưởng được truyền bá và bảo vệ một cách sắc sảo bởi Berlioz ở phần đầu tác phẩm. Berlioz bị chặt đầu, vì chính tư tưởng chối Chúa của hắn. Ngay từ chương đầu tiên của tác phẩm, Berlioz đã trình bày một cách rất tự tin và lưu loát về quan điểm chống tôn giáo của mình, về viêc phủ nhận Chúa và cả quỷ. Berlioz đại diện cho quan điểm duy lý thuần túy, cho rằng mọi việc trên đời đều có thể hiểu được bằng suy luận của con người. Và tư tưởng đó là một sự ngạo mạn. Trước hết, bởi, tôn giáo là vấn đề về đức tin, không phải vấn đề suy luận, nó là bất khả tri và bất khả tư nghị. Tin vào Chúa và Quỷ, là tin vào thiện vào ác. Sự tồn tại của các đấng siêu việt trong đời sống con người như một sự sự định hướng cuộc sống, để hướng về điều thiện, tránh xa điều ác. Phủ định Chúa và Quỷ, là phủ định sự định hướng đó. Berlioz đại diện cho ý thức hệ Moscow những năm 1930 tin rằng có thể tạo ra con người hoàn thiện, con người của thời đại mới. Nhưng trên thực tế, có thể thấy rằng, con người không bao giờ thoát khỏi vị trí nằm giữa thiện – ác, và bên trong mỗi con người đều có đủ tiềm năng để làm cả điều ác lẫn điều thiện. Kết quả của đức tin ấy, con người mất đi định hướng và trôi về phía cái Ác. Trong đời sống, họ không còn gọi tên Chúa, mà gọi tên quỷ nhiều hơn, “có quỷ mới biết”, “có ma quỷ mới biết”, đó là câu cửa miệng của họ. Thói tham lam, ích kỉ tràn ngập khắp nơi, sự dối trá trở thành một hiện tượng phổ biến. Tất cả điều này đã được phơi bày, khi Voland đến Moscow trong vai trò một tiên tri mang sứ điệp của Chúa. Tư tưởng của Berlioz còn ngạo mạn, bởi vì cho rằng bản thân con người có thể biết được hết vũ trụ và làm chủ hoàn toàn được lịch sử. Hắn chối bỏ sáu bằng cứ về sự tồn tại của Chúa, kể cả bằng cứ thứ bảy, bằng chứng “mắt thấy tai nghe” của quỷ Voland, kẻ có khả năng chứng kiến mọi sự về cuộc đời Chúa, để rồi bàng hoàng ngỡ ngàng khi bản thân chỉ còn là một cái đầu trong buổi đại vũ hội của quỷ. Hắn cho rằng con người có thể làm chủ được lịch sử, có thể lập kế hoạch chính xác cho mọi việc, cho nên ngỡ ngàng trước sự bất định của đời sống khi gặp một chuỗi tan nạn ngẫu nhiên và chết, cái đầu lăn lóc trên đất, theo đúng như lời tiên tri của quỷ Voland. Ở đây, các lớp huyền thoại và các lớp hiện thực đan cài vào nhau, hai luồng tư tưởng đối chọi sâu sắc, sự ngạo mạn của Berlioz và sự thông tuệ của Voland, cách tri nhận sự thật đầy thiên kiến và chủ quan của Berlioz và sự quan sát sự vật trong sự phát triển khách quan như những gì nó vốn có của Voland, từ đó quan điểm, tư tưởng của Bulgakov hiện lên rất rõ ràng: Cái đầu của Berlioz phải rơi xuống, trong sự tiên tri chính xác của Voland, bởi sự ngạo mạn trong tư tưởng duy ý chí thuần túy của con người cần phải bị triệt tiêu để con người có thể tự do vươn tới siêu việt.
 Nhưng tính chất hai màn chặt đầu rất khác nhau: Berlioz là một kẻ truyền bá tư tưởng và có quyền lực để áp đặt tư tưởng lên người khác, còn Begalski đơn giản chỉ là một tên hề do thám dùng ngôn ngữ để diễn trò. Berlioz, nguồn gốc của sự chối Chúa, phải chết thảm khốc. Begalski, tên hề phát ngôn cho tư tưởng thời đại “carnaval mới” (kẻ tuyên truyền hoạt ngôn như Belgaski chưa chắc đã cần phải hiểu những điều mình nói, nên ngôn từ của hắn có tính chất diễn trò), bị chặt đầu và gắn đầu như một trò tiêu khiển. Ở đây, hai sân khấu carnaval xảy ra một sự xung đột và lật tẩy: tên hề của carnaval truyền thống, con mèo Beghemot, hạ bệ tên hề của Moscow, Begalski. Sự dối trá của Begalski bị bóc trần không khoan nhượng. Sân khấu carnaval nhỏ - hắc ảo thuật, đã lột trần lớp mặt nạ đầy giả dối của sân khấu carnaval lớn hơn – xã hội Moscow.
Màn chặt đầu Begalski, thực chất, là một cuộc thí nghiệm bản chất con người ở công dân Moscow, nhằm giải phóng họ khỏi trạng thái cô độc, sợ hãi, khép kín. “thời đại carnaval mới” tập trung vào cái ta và thủ tiêu một cách quan liêu cái tôi. Những luật lệ hà khắc đã khiến con người sống trong sợ hãi, trở thành những cá thể câm lặng, không dám chia sẻ suy nghĩ, tình cảm của bản thân mình. Công chúng trong buổi trình diễn hắc ảo thuật được tác giả miêu tả là “im lặng tuyệt đối”. Trạng thái “im lặng tuyệt đối” cho thấy mỗi cá thể tồn tại khép kín trước đồng loại của mình, đó là những cá thể cô đơn. Màn chặt đầu đã dần phá vỡ trạng thái đó. Cái đầu Begalski rơi xuống, “hai nghìn rưởi con người ngồi trong rạp nhất loạt thốt lên một tiếng kêu”. Phản xạ thốt lên trước một cảnh kinh hoàng đã phá vỡ tình trạng những cá nhân khép kín. Từng cá thể trong hai nghìn rưởi con người đó nhận ra mình rất giống nhau, đều sửng sốt khi bị bất ngờ – một cảm giác nguyên thủy của con người. Từ đây họ sẵn sàng mở lòng, sẵn sàng chia sẻ tư tưởng, tình cảm khi đồng loạt xin tha cho Begalski, “lúc đầu vang lên những tiếng rời rạc, chủ yếu là phụ nữ, nhưng sau chúng hòa vào một bản đồng ca giọng của đàn ông”. Họ tìm lại được mối liên hệ với cộng đồng, cảm thấy mình là một phần của tập thể to lớn, được là chính mình và được hòa nhập, đó chính là họ đang sống trong không khí tự do không tưởng của carnaval. Ở đây, nỗi sợ hãi bị hạ bệ, lòng từ tâm được hồi sinh. Trong hệ thống giá trị của Bulgakov, lòng từ tâm là một đức tính rất quan trọng, nó là điểm sáng trong nhân cách con người, nó giải phóng con người khỏi tội ác và sự ích kỉ.

3.3.2. Vai trò của Beghemot trong nghi lễ thay áo cho vua

Gắn với anh hề chính là các hình thức hội hè dân gian. Bản thân anh hề cũng là một biểu tượng trung tâm của hội hè. Các hình thức hội hè phần lớn chính là những trò diễn, trò chơi của anh hề. Trò chơi cờ vua với tình tiết quân vua thay áo bào cho quân sĩ ở chương 22, chương truyện có vai trò như một sự chuẩn bị cho màn đại vũ hội, chính là một hình thức hội hè dân gian tiêu biểu. Theo quan điểm của Bakhtin, “Trong trò chơi bài dường như toàn bộ cuộc sống nô đùa trong các bức tiểu họa. Đồng thời trò chơi cũng vượt ra khỏi giới hạn của đường ray cuộc sống thường ngày, giải phóng khỏi các luật lệ và quy tắc sống, thay cho tính ước lệ của cuộc sống nó đặt vào một tính ước lệ khác, cô đọng hơn, vui vẻ và nhẹ nhàng hơn.” (7,374). Như vậy, việc quân vua thay áo bào cho quân sĩ, trước hết có ý nghĩa như một sự phá bỏ các quy ước trò chơi, tức là phá bỏ thêm một lần nữa những nguyên tắc nghiêm ngặt của đời sống, trở thành một trò chơi trong trò chơi. Mục đích của việc phá vỡ hai lần quy tắc ấy: Để đạt được đến sự tự do tuyệt đối. Sự tự do mà, chỉ khi có được nó, những tư tưởng cởi mở nhất mới có cơ hội được bày tỏ, để “trao cho tác giả quyền có những đề tài phi chính thống; hơn thế nữa – quyền có giác độ phi chính thống để nhìn ra thế giới” (7, 417).
Bên cạnh đó, bản thân mỗi trò chơi và diễn tiến trong trò chơi chính là một ẩn dụ cho những sự kiện chính trị - xã hội đương thời. “Trò chơi cờ vua, một mặt biến thành một vũ hội hóa trang kiểu hội giả trang, mặt khác trở thành hình tượng hội giả trang về các sự kiện chính trị - quân sự.” (7,374). Bản thân sự việc quân vua thay áo bào cho quân sĩ quan trên bàn cờ chính là một màn diễn lại của nghi thức hạ bệ ông vua trong các lễ hội giả trang. Nghi thức hạ bệ có tính nhị chức năng, nó hủy diệt, chôn lấp những gì thủ cựu, độc tài, nó tước bỏ quyền lực tối cao của kẻ thống trị và kéo kẻ đó xuống đất, đồng thời nó hồi sinh, tôn vinh những giá trị mới, sự tự do, bình đẳng, sự công bằng. Nó trao trả quyền lực của kẻ thống trị về tay nhân dân, về tay tập thể. Chi tiết lột bỏ áo quân vua, do vậy, có tính chất như một phục bút, nó dự cảm cho số phận của chính quyền Stalin. Nó hoàn toàn phù hợp với tên của vũ hội,  “Vũ hội Trăm Vua”, tước bỏ con số một độc tôn của kẻ trị vì. Chi tiết dự báo này cũng tương hợp với vai trò tiên tri của nhân vật quỷ Voland. Luận văn Từ biểu tượng quỷ Satan trong Kinh thánh đến hình tượng chúa quỷ Voland trong Nghệ nhân và Margarita của M.Bulgakov của Văn Trịnh Quỳnh An đã trình bày rất cụ thể về vai trò ấy của Voland, theo đó, Voland đến Moscow với như một tiên tri trong Kinh thánh: thực hiện sứ điệp của Chúa, phơi bày sự thật của xã hội Soviet, cáo trách tín đồ về sự phạm tội và kêu gọi sự ăn năn. Có thể thấy rằng dự cảm về sự sụp đổ của chính quyền Soviet tràn ngập khắp tác phẩm, đó là lửa thiêu rụi mọi thứ, đó là sự thiếu vắng đáng sợ của nhân tính, đó là sự bất hòa sâu sắc với thực tại của những người tốt, là trại thương điên và hành động chối bỏ danh tính con người. Và thậm chí dự cảm ấy đã có mầm mống từ những tiểu thuyết trước của Bulgakov như Những quả trứng định mệnh, một tiểu thuyết giả tưởng về đề tài thảm họa mang màu sắc của thuyết tận thế, hay Trái tim chó, một tiên đoán cho kết quả tất yếu của cuộc thử nghiệm “tạo dựng con người mới” đang được thực hiện trên toàn xã hội Soviet bấy giờ. Bằng khả năng quan sát tinh tường, bằng tâm hồn nhạy cảm và trực giác nhạy bén, Bulgakov hiểu rõ hiện thực đang mở ra trước mắt, và hiểu rõ cái đích mà hiện thực ấy phải tới. Thuyết tận thế cũng ánh xạ vào chính tác phẩm Nghệ nhân và Margarita, có thể dễ dàng nhận thấy Voland và đoàn tùy tùng chính là những kĩ sĩ tận thế của địa ngục, một sự sao chép hệ có tính toán hệ thống của Chúa mà quỷ thực hiện để hoàn thành sứ điệp của mình. Tinh thần của thuyết tận thế bao giờ cũng là sự mất niềm tin vào nhân tính của con người, là sự bi quan vào tương lai của nhân loại. Nhưng bên cạnh đó, nhân tính cũng không ngừng chống chọi với sự phi nhân, từ trong thảm họa mà nhân tính trỗi dậy. Cho nên, sự phế truất bao giờ cũng gắn liền với sự lên ngôi, sự hủy diệt bao giờ cũng gắn liền với sự hồi sinh, bởi như một quy luật tất yếu, nhân tính sống dậy mãnh liệt nhất trong những khung cảnh thảm khốc nhất. Có thể Bulgakov đã bi quan (và không thể không bi quan) về xã hội, nhưng chắc chắn rằng, niềm tin của ông vào công lý, vào con người, vào sự thật không lụi tàn.

3.3.3. Beghemot và ngôn ngữ  quảng trường

Thế giới Carnaval chính là một sự giễu nhại thế giới đời thường. Bakhtin viết: “Cuộc sống thứ hai, thế giới thứ hai của văn hóa dân gian ở chừng mực nhất định được xây dựng như một sự chế nhạo cuộc đời thường ngày, tức là cuộc đời ngoài hội hè, như một “thế giới lộn nược”.(7, 36). Giễu nhại là một trong những đặc trưng của hề, cả về phương diện hành động lẫn ngôn ngữ.
“Nhại” là sự bắt chước một cách hài hước đối với một nhóm tác phẩm nghệ thuật. Nhại thường được xây dựng trên sự không tương xứng rõ rệt giữa bình diện văn phong và bình diện đề tài của hình thức nghệ thuật” (35, 247). Giễu nhại là một thủ pháp đặc trưng của nghệ thuật trào phúng, bao gồm hai quá trình cơ bản: bắt chước (nhại) và châm biếm (giễu). Giễu nhại cũng có nhiều mức độ, tương ứng với các cấp độ tiếng cười: hài hước, châm biếm, đả kích… Theo Bakhtin, giễu nhại là nói bằng giọng của kẻ khác nhưng đưa vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hẳn với khuynh hướng nghĩa của lời người đó. Đối với ngôn ngữ tiểu thuyết, giễu nhại chính là một cách “chơi” của tác giả giữa các bè ngôn ngữ đại diện cho các tư tưởng xã hội khác nhau. Bakhtin cho rằng, ngôn ngữ tiểu thuyết có tính chất phức điệu, “những hình thái ngôn ngữ và phong cách khác nhau là thuộc về những hệ thống khác nhau trong ngôn ngữ tiểu thuyết […].  Ngôn ngữ tiểu thuyết không thể nào xếp đặt trên một bình diện, kéo nối thành một tuyến, đó là một hệ thống những bình diện tương giao” (6,89), “tiểu thuyết – đó là những tiếng nói xã hội khác nhau, đôi khi là những ngôn ngữ xã hội khác nhau và những tiếng nói các nhân khác nhau được tổ chức lại một cách nghệ thuật” (6,116). Cách “chơi” của nhà văn, đó là đứng ở vị trí ngoài những bè phối đó, là một người trọng tài (dẫu thiên vị) giữa các cuộc đối thoại, nhà văn sắp xếp các bè phối ngôn ngữ, các tiếng nói xã hội khác nhau một cách có trọng tâm, để từ đó cất lên tư tưởng, tiếng nói của mình. Còn cách “chơi” của nhân vật hề, chính là giễu nhại. Bằng cách nhại lại những giọng xã hội khác nhau, tên hề tiến hành những trò đeo mặt nạ trên phương diện ngôn ngữ, hắn nhại lại lời của người khác và đưa vào đó những xu hướng đối lập, để từ đó châm biếm, giễu cợt.
Trước hết, tên hề nhại lại một giọng xã hội. Hề Beghemot đã “nói bằng giọng của nhà chức trách”. Đó là cái giọng hách dịch, quan liêu: “Hộ chiếu đâu!?”, “Hừm, đúng thế, tất nhiên! Tôi biết cái phòng này mà! Ở đó bất kỳ ai cũng được cấp hộ chiếu cả! Tôi chẳng hạn, tôi sẽ không cấp hộ chiếu cho những người như ông đâu! Không cấp với bất cứ giá nào! Chỉ cần nhìn vào mặt một lần là từ chối ngay tức khắc!”. Không khó để nhận ra cái giọng đáng ghét, trịch thượng của của những tên quan chức như Varenukha ẩn chứa trong đó. Sự giễu nhại ở đây nhắm đến hai đối tượng, một là những tên quan chức quan liêu hống hách, coi thường người khác. Sự giễu nhại ngôn ngữ, trong trường hợp này, chính là việc châm biếm một thái độ sống tồi tệ thông qua biểu hiện rõ ràng nhất của nó, thứ ngôn ngữ trịch thượng và bất lịch sự. Mặt khác, sự giễu nhại nhắm đến đối tượng giao tiếp của loại ngôn ngữ ấy, những công dân Moscow sợ sệt, khép nép, hèn nhát. Một trường hợp khác, Beghemot nhại cái giọng hiền lành, tội nghiệp của những người dân Moscow: “Ôi cảm ơn nhé, người  bạn trung thành đã bênh vực kẻ bất hạnh”(với giọng điệu bi thương cường điệu đầy tính mỉa mai). Và có những lúc người đọc cảm nhận được chất giọng của Bulgakov hòa cùng chất giọng của tên hề, qua những lời thoại có tính chất tiên tri: “Lịch sử sẽ phán xét chúng ta”, Những người làm công bao giờ cũng biết hết mọi chuyện, thật sai lầm khi nghĩ rằng họ mù”. 
 Hiện tượng nhại phong cách ngôn ngữcũng đã xảy ra, Beghemot đã nhại lại phong cách hành chính trong những giấy tờ chứng nhận của Moscow:
“Tôi chứng nhận rằng người cầm giấy này, Nikolai Ivanovich, đêm qua đã có mặt tại vũ hội của chúa quỷ Satan, bị đưa đến đây với tư cách là phương tiện chuyên chở... Ghella, mở ngoặc đơn! Trong ngoặc đơn viết “lợn đực thiến”. Ký tên - Beghemot.” (13, 528).
Những hình thức có tính quy phạm của văn bản hành chính vẫn được tuân thủ: Lời khẳng định một cách trang trọng của người chứng giấy,“Tôi chứng nhận rằng”, tên đối tượng được nêu đầy đủ và trang trọng, “Nikolai Ivanovich”, cuối văn bản có kí tên. Ở đây, cài vào trong những hình thức nghiêm trang ấy là những thông tin bỡn cợt, hài hước: công dân Moscow được nhắc đến với tư cách là “phương tiện chuyên chở”, và cụm từ “lợn đực thiến” được nhấn mạnh có chủ ý với mục đích hạ nhục, giễu cợt đối tượng được nhắc đến. Các lớp hiện thực và kì ảo hòa trộn, sự nghiêm túc và bỡn cợt đan xen, qua đó, Beghemot châm biếm tệ giấy tờ quan liêu ở Moscow, và hơn thế, đả kích một cách nhìn thiếu nhân văn về con người trong xã hội đương thời – nhìn con người trên những cái nhãn.
Ngôn ngữ là công cụ tư duy, giễu nhại ngôn ngữ thực chất còn là giễu nhại để hạ bệ hệ thống tư tưởng. Có thể kể đến trường hợp giễu nhại những tam đoạn luận rối rắm của Beghemot ở màn chơi cờ vua với quỷ Voland.Đó chính là sự giễu nhại những suy luận của Berlioz trong cuộc đối thoại với Ivan về Chúa ở phần đầu tác phẩm. Chúng giống nhau về bản chất: Những suy luận logic chỉ là hình thức giả trá bên ngoài, nó không phải là cách thức tiếp cận chân lý. Với Beghemot, những suy luận logic chỉ là vỏ bọc để che đậy việc giải quyết vấn đề bằng hắc ảo thuật. Với Berlioz, những suy luận logic chỉ là vỏ bọc cho một tư tưởng thủ cựu và việc dùng quyền lực để áp đặt tư tưởng đó lên người khác. Cuộc đối thoại giữa Berlioz và Ivan chỉ là hình thức, ở đây hoàn toàn không có sự dân chủ bởi ngay từ đầu,  Berlioz, dưới quyền tổng biên tập, đã tỏ ra mình là kẻ độc tôn chân lý và Ivan không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận từ bỏ chính kiến và tuân theo quyền lực. Sự giễu nhại của Beghemot ở đây hạ bệ, phủ định tư tưởng chối Chúa có tính chất duy ý chí thuần túy và đầy phiến diện của Berlioz, đồng thời vạch trần bản chất xảo trá, bảo thủ của hắn.
Bên cạnh tính chất giễu nhại, ngôn ngữ của tên hề còn đầy tính mỉa mai. Đó là cách nói ngược đặc trưng của ngôn ngữ quảng trường, lời khen trở thành mặt trái của lời chê, sự chênh lệch giữa ngôn từ và ý nghĩa là cơ sở tạo nên tiếng cười. Trong những trò phiêu lưu cuối cùng đến Moscow, Beghemot tham gia cuộc đối thoại với Koroviev, qua đó hai nhân vật này phơi bày bản chất của những văn nghệ sĩ MASSOLIT. Ở đây ngôn ngữ mỉa mai xuất hiện dưới hình thức những lời khen: một nỗi kinh hoàng ngọt ngào trào lên trong tim khi nghĩ rằng trong ngôi nhà này giờ đây đang hình thành tác giả tương lai của một “Don Kihote” , hay một “Faust”, hay, quỷ tha ma bắt tôi đi một “Những linh hồn chết”!,có thể đợi gặp những điều kỳ diệu trong các căn phòng ấm cúng của ngôi nhà này, nơi tụ họp hàng mấy nghìn những con người quên mình sẵn sàng hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp của Melpomen, Polihimnia và Talia. Cậu thử tưởng tượng xem người ta sẽ xôn xao lên như thế nào khi một người nào đó trong bọn họ để khởi đầu mang đến cho người đọc một “Quan thanh tra”, hay ít nhất cũng là một “Evgheni Oneghin”! (13,639).  Bakhtin viết: “Lời khen ngợi quảng trường, như chúng ta thấy, mang tính mỉa mai và hai nghĩa. Nó nằm giáp ranh với lời chê trách”.(7, 265). Những lời khen là mặt trái của lời chê, của tiếng chửi, bởi khi gắn tên những tác phẩm văn học bất hủ vào với những văn sĩ MASSOLIT, những kẻ bất tài, hám danh hám lợi, Koroviev đã tạo sự tương phản rõ rệt. Các từ “nỗi kinh hoàng”, “xôn xao” là một sự chơi giỡn, nó không phải có nghĩa bất ngờ, thán phục (như vẻ bề ngoài của nó), mà có nghĩa là ngỡ ngàng, ngạc nhiên về một điều hy hữu xảy ra, cụ thể là việc những nhà văn MASSOLIT cho ra đời được các tác phẩm vĩ đại! Trong cuộc đối thoại ấy, trò chơi của Begemot là đánh tráo khái niệm và vật hóa. Koroviev nói một cách đầy mỉa mai:Thật dễ chịu khi nghĩ rằng vô số các tài năng đang ẩn náu và chín muồi ở dưới mái che của ngôi nhà này”. Thì ngay lập tức Beghemot nhẫn xét: “Như dứa chín dưới mái nhà kính ấy”. Ở đây xuất hiện một sự đánh tráo khái niệm, tài năng “chín muồi” chắc chắn không giống “dứa chín”, sự so sánh vật hóa những nhà văn MASSOLIT và cho thấy sự bất tài của họ.
Đánh tráo khái niệm là một trò chơi ngôn ngữ của tên hề. Ngôn từ đeo mặt nạ và tham gia vào những màn giả trang của vũ hội. Mục đích của việc đánh tráo này có khi chỉ là để tạo không khí vui tươi, hài hước, và qua đó bộc lộ tính cách độc đáo, bỡn cợt của nhân vật hề. “Rượu” trở thành “cồn nguyên chất”, hàm ý giận dỗi: “Ôi xin xá lỗi, thưa hoàng hậu, chẳng lẽ tôi cho phép mình rót vodka cho phụ nữ ư? Ðây là cồn nguyên chất đấy!”. Hành vi “ăn cắp” trở thành “cứu hộ”: “Tôi xin nghe và xin tiếp tục, – Beghemot đáp, – vâng, đây là bức tranh sơn thủy. Ngoài ra, không thể mang thêm được gì nữa ra khỏi phòng họp, lửa quất thẳng vào mặt tôi. Tôi chạy vào nhà kho, cứu được con cá chiên này. Rồi tôi chạy xuống bếp cứu được chiếc áo blu của đầu bếp. Tôi cho rằng tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể, và tôi thật không hiểu cái vẻ nghi ngờ trên mặt ngài có nghĩa là gì.”(13,656).
Carnaval thiết lập một đời sống mới trong không gian rộng lớn quảng trường, nơi các mối quan hệ đời thường bị loại bỏ, con người trở về với tư cách người giữa muôn người trong bầu không khí hội hè, khoảng cách giữa người với người gần như không còn. Chính tính chất tập thể này đã làm phát sinh một lọa mối quan hệ đặc trưng của carnaval: mối quan hệ suồng sã quảng trường, cũng từ đó làm nảy sinh ra ngôn ngữ suồng sã đặc trưng của carnaval. Ngôn ngữ của hề Beghemot đã thấm hút cái chất liệu suồng sã đặc trưng của carnaval, cụ thể qua những lời mắng chửi như “đồ tởm”, hay  những lời thề thốtvà cứ để người ta treo cổ tôi lên đám dây leo trong khu rừng nhiệt đới kia nếu như đã bao giờ có một vũ hội nào có được một dàn nhạc như thế này”, “Thưa messir, tôi xin thề là tôi đã có những cố gắng anh hùng để cứu lấy tất cả những gì có thể, và đây là toàn bộ những gì cứu được”. Ngôn ngữ suồng sã quảng trường có tính nhị chức năng, chúng giải phóng con người khỏi những quy tắc giao tiếp thông thường, chúng phá vỡ các chuẩn mực ngôn ngữ, để đưa con người đạt đến trạng thái tự do tuyệt đối của carnaval. Bakhtin viết: “Tất cả các hiện tượng như mắng mỏ, nguyền rủa, thề thốt, văng tục đều là những yếu tố phi chính thống của ngôn ngữ. Chúng đã và đang tiếp nhận như sự phá vỡ lộ liệu các chuẩn mực đã định hình của giao tiếp ngôn ngữ, như sự chối từ có chủ đích việc tuân thủ các ước lệ ngôn từ – khỏi nghi thức, phép tắc lịch sự, sự sùng mộ, tôn thờ, khỏi tôn ti phẩm cấp v.v […].  Chúng đưa ngôn ngữ sang một bình diện khác, đặt toàn bộ nó vào phía bên kia của bất kì tính ước lệ ngôn ngữ nào. Vì thế ngôn từ ấy được giải phóng khỏi quyền lực của các quy tắc, đẳng cấp và cấm đoán ngôn ngữ nói chung”. (7, 301).
TIỂU KẾT
Như vậy có thể thấy, Beghemot chính là sự kết tinh của các hình thức carnaval: bất định trong không gian và thời gian với đường biên hoạt động vô tận, tạo hình nghịch dị, ngôn ngữ suồng sã đặc trưng của quảng trường, có mối quan hệ mật thiết với các nghi thức – trò diễn của hội giả trang. Beghemot cùng các nhân vật khác trong đoàn tùy tùng của chúa quỷ Satan đã tạo ra sân khấu carnaval nhỏ lật tẩy sân khấu “carnaval mới”[1] – Moscow dưới thời Stalin những năm 1930, từ đó thể hiện quan niệm của Bulgakov về xã hội ông đang sống với tư cách của một nhà phản biện, và thể hiện những quan niệm triết học của ông về thiện – ác, về cách nhìn nhận con người.




[1]Cụm từ “carnaval mới” được sử dụng để chỉ sự tương đồng về hình thức giữa xã hội Soviet và các nghi lễ carnaval truyền thống, mặc dù chúng đối lập với nhau hoàn toàn về bản chất.Bakhtin viết: “Nói chung, khi một số hình thức sinh hoạt hội hè được du nhập vào đời sống thời đại mới, chúng vẫn giữ được vỏ ngoài, nhưng đánh mất đi cái ý nghĩa bên trong của chúng, […] đánh mất hoàn toàn mọi ý nghĩa hội hè” (3,168). 

GIỚI THIỆU LOẠI HÌNH NHÂN VẬT HỀ

Hề theo kiểu harlequin


1.1.           Khái niệm, phân loại và lịch sử hề

1.1.1.     Khái niệm và phân loại

Có nhiều định nghĩa khác nhau về hề. Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa hề: “vai hài, chuyên biểu diễn để giễu cợt hoặc pha trò trên sân khấu, làm vui cho khán giả” (20,326). Trong tiếng Anh, có rất nhiều từ tương đương với “hề”: Fool, jester, clown… Từ điển Oxford for advance learner định nghĩa: người thời xưa làm việc mua vui trong các triều đình bằng cách những câu nói đùa hay kể những chuyện vui[1]. Bách khoa toàn thư trực tuyến Britanica định nghĩa: người mua vui bằng những trò điên rồ hoặc phá phách, thật hoặc giả vờ, và có quyền chọc phá cả những người quyền lực nhất[2]. Như vậy, có thể hình dung, hề là một người mua vui, đó có thể là một kiểu nhân vật chức năng trong nghệ thuật (sân khấu, văn học) là một loại nghề nghiệp, một lớp người trong xã hội. Phương thức mua vui của hề là những lời nói và hành động điên rồ, hoặc ngốc nghếch. Sự điên rồ và ngốc nghếch của hề có thể là do bẩm sinh, hoặc đơn thuần chỉ là trình diễn. Chính nhờ đặc điểm này, hề có khả năng chọc phá tất cả mọi người, cả những người quyền lực nhất trong xã hội.

Vicki K Janik trong phần Dẫn nhập (Introduction) của cuốn Fool and Jesters in Liturature, Art and  Historyđã đưa ra hai tiêu chí để phân loại hề:
1.                  Sự nhận thức và thừa nhận của hề về điểm yếu và khao khát của chính mình.
2.                  Sự nhận thức và thừa nhận của hề về điểm yếu và khao khát của người khác
Từ đó, có thể chia hề ra làm bốn loại cơ bản:
1.                  Kiểu hề thông thái (The wise fool):
                                                              i.      Nhận thức và thừa nhận về điểm yếu và khao khát của bản thân
                                                           ii.      Nhận thức về và thừa nhận điểm yếu và khao khát của người khác
2.                  Kiểu hề bị lừa bịp, nạn nhân (The dupe hoặc victim)
                                                              i.      Nhận thức và thừa nhận về điểm yếu và khao khát của bản thân
                                                           ii.      Không nhận thức và thừa nhận về điểm  yếu và khao khát của người khác
3.                  Kiểu hề lừa gạt, tinh quái (The trickster hoặc evildoer)
                                                              i.      Không nhận thức về điểm yếu của bản thân
                                                           ii.      Nhận thức và thừa nhận điểm yếu và khao khát của người khác
4.                  Kiểu hề ngây thơ, thánh thiện (The Innocent hoặc holy fool)
                                                              i.      Không nhận thức về điểm yếu và khao khát của bản thân
                                                           ii.      Không nhận thức về điểm yếu và khao khát của người khác

Chân dung của bốn loạn hề này có thể được bắt gặp trong những phim của anh em nhà Marx: Groucho là hề thông thái, kẻ biết rõ tính hám lợi của mình cũng như những khao khát kì quặc của kẻ khác. Chico là tên hề lừa gạt, luôn phá vỡ các luật lệ để giành lấy các giải thưởng, như là gái đẹp, tiền bạc, đồ ăn. Harpo là tên hề ngây thơ, kẻ không biết cách tương tác với thế giới nhưng luôn tình cờ thành công. Còn lại chính là Margaret Dumnt, kẻ chỉ biết đến những cảm xúc lãng mạn của mình mà không để tâm tới những cám dỗ, tham lam, lừa lọc của thế giới quanh cô. Có thể viện dẫn một trường hợp khác, truyện “Bộ quần áo mới của hoàng đế” (C.H Andersen). Hoàng đế chính là tên hề bị lừa gạt, chỉ biết đến mong muốn trưng diện và quần áo mới của mình. Hai tên thợ may chính là tên hề bịp bợm. Còn cậu bé lật tẩy ông vua trong màn giễu hành chính là tên hề ngây thơ. Tuy vậy, sự phân chia này có tính tương đối. Một vài nhân vật hề có thể thuộc  cùng lúc nhiều loại. Ví dụ điển hình của trường hợp này chính là nhân vật Forrest Gump trong tiểu thuyết cùng tên của Winston Groom. Ban đầu, Forrest Gump chính là tên hề ngây thơ, kẻ nhận thức được những điểm yếu và khát khao của bản thân lẫn của những người xung quanh. Hắn tham gia vào những trận bóng bầu dục, tham gia vào giải vô địch cờ vua, vào chiến tranh Việt Nam, tất cả đều là do hoàn cảnh xô đẩy với những vận may kì lạ, nên đều thành công. Nhưng đến cuối tác phẩm, hắn nhận thức rõ về bản thân, cũng như về người mà hắn yêu thương nhất, thông qua việc chiêm nghiệm lại cuộc đời mình: “Nhưng để tớ bảo các cậu cái này: nhiều lúc vào ban đêm, khi tớ ngước nhìn những vì sao và thấy cả bầu trời trải ra trước mắt, đừng nghĩ tớ không nhớ lại tất cả. Tớ vẫn có những giấc mơ như mọi người, và cứ thỉnh thoảng, tớ vẫn nghĩ về những điều có thể đã khác đi. Và rồi đột nhiên, tớ đã bốn mươi, năm mươi, sáu mươi tuổi rồi, các cậu biết chứ? Ờ, mà thế thì sao? Tớ có thể chỉ là một gã khờ, nhưng dẫu sao thì phần lớn thời gian, tớ đã cố làm điều đúng và mơ ước chỉ là mơ ước thôi” (42, 316). Và như vậy, tên hề ngây thơ đã trưởng thành, trở thành tên hề thông thái.

Nhìn chung, nhân vật hề tồn tại ở nhiều nền văn hóa. Có nhiều cách diễn giải về ý nghĩa của hề. Một số nền văn hóa xem hề là kẻ phá phách, là quỷ dữ. Ví dụ như Sách Psalms, Sách Cách ngôn, Sách Thánh (Kinh Thánh), hề được miêu tả là một kẻ tự cao tự đại và không tin vào chúa. Ngược lại, một vài xã hội lại chấp nhận và chào đón hề, bởi hắn là kẻ đại diện cho nhân dân, chống lại ý thức hệ đang thống trị. Tên hề trong carnaval thời Phục hưng và Trung cổ châu Âu là một ví dụ. Bằng cách nghi thức carnaval như giễu nhại, phế truất vua, đánh đập, ngôn ngữ suồng sã, tên hề lộn trái mọi quy luật đời thường, hạ bệ uy tín của cái tuyệt đối, chôn lấp cái nghiêm và cái thiêng, đánh tan nỗi sợ hãi, trả con người về trạng thái tự do, công bằng và dân chủ tuyệt đối, trạng thái người giữa muôn người, cảm thấy mình là một phần hữu cơ của thân xác toàn dân bất tử. Cần phải nói thêm rằng, bên cạnh những đặc điểm chung được khái quát trong bốn loại trên, mỗi tên hề được sáng tạo một tính cách riêng, một cách diễn trò riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân.

1.1.2.     Khái quát về lịch sử hề

Nhân vật hề tồn tại từ rất lâu đời. Bằng chứng về hề còn ghi dấu trong thần thoại, thể loại văn học một đi không trở lại, đánh dấu nhận thức thuở bình minh của loài người. Margery L. Brown trong bài viết Hephaestus, Hermes and Prometheus – jester to the Gods, đã đề cập đến một số thần với tư cách là hề trong thế giới thần của Hy Lạp.  Cả Hephaetus, Hermes và Prometheus đều được xem là những kẻ bịp bợm trong thế giới thần, thường chịu sự chế nhạo của người khác. Hề bịp bợm là một nhân vật rất phức tạp. Về bề ngoài, đó có thể là một dạng thầy tế (shaman), được thần thánh chọn lựa, đạt đến bậc thầy về chuyên môn thông qua những thử thách, và trở thành sự kết hợp của tiên tri, nhà ảo thuật, giáo sĩ, người bảo trợ tri thức bí truyền. Về bản chất, hề bịp bợm không đơn thuần chỉ là thầy tế hay thánh thần, mà vai trò thực sự của hắn là kẻ nổi loạn, thách thức trật tự đang ngự trị, tạo ra những hỗn loạn. Mặc dù hề bịp bợm thông minh và đầy sáng tạo, nhưng những sản phẩm hắn làm ra đều có mặt trái. Điều này khiến tên hề đôi khi trở thành nạn nhân của chính mình, và trở thành trò cười của các vị thần. Margery lý giải, sở dĩ các vị thần này chấp nhận trở thành trò cười, là do hai nguyên nhân, thứ nhất đó là tính cách tự nhiên của ông ta, thứ hai, đó là cách ông ta làm chủ tình hình, vì sự đối đầu trực diện sẽ khiến ông ta bị đánh bại bởi các vị thần toàn năng hơn. Trường hợp điển hình chính là thần thợ rèn Hephaetus. Tính cách của vị thần này rất lương thiện, trong màn trả thù Hera, người mẹ đã bỏ rơi mình, Hephaetus đã bị thuyết phục dễ dàng bởi rượu của thần Dionysus và đồng ý làm hòa với mẹ mình. Bản chất hiền hậu tự nhiên khiến Hephaetus dễ dàng chấp nhận sự cười nhạo, giễu cợt. Nhưng quan trọng hơn, đó là cách thần tránh được những xung đột trực diện. Khi vợ thần, Aphrodite ngoại tình với Ares, Hephaetus bị mọi người cười nhạo, chế giễu. Thần đã chọn cách cài bẫy trói đôi nhân tình vào giường và mời các vị thần đến xem để cười nhạo họ, đây là cách Hephaetus làm chủ tình hình, tránh cuộc đối đầu trực diện và chắc chắn thất bại, trước Ares.
 Trong thần thoại Bắc Âu, cũng ghi nhận sự xuất hiện của nhân vật hề bịp bợm, đó chính là Loki, vị thần của những trò đùa tinh quái, tượng trưng cho lửa và ánh chớp. Carl Bryan Holmberg, trong bài viết Loki, the Norse Fool cho rằng đây là nhân vật bị hiểu lầm và bị đối xử tồi tệ nhất trong thần thoại Bắc Âu. Bên cạnh những hành động cực kì độc ác, Loki đại diện cho sức mạnh của ánh sáng và của ngôn từ, nguồn sức mạnh khi kết hợp cùng nhau đã thuyết phục mọi người rằng thần không phải là toàn năng. Thực chất, mọi trò đùa nghịch, lừa gạt của Loki đều nhắm tới những lợi ích nhất định. Có thể kể đến câu chuyện Loki trộm bím tóc dài của Sif, khiến Thor tức giận và yêu cầu Loki phải trả lại bím tóc ấy. Loki nhờ Dvalin làm lại bím tóc mới. Người lùn tài năng không chỉ làm lại bím tóc cho Sif, mà còn tạo ra cây thương bách phát bách trúng và chiếc thuyền ma thuật. Sau đó Loki tuyên bố rằng ba món đồ kì diệu ấy là tuyệt đỉnh của nghề thợ rèn, điều này khiến Sindri, một người lùn khác tự ái, tham gia cá cược với Loki và tạo ra ba món đồ kì diệu, con lợn vàng trao cho Odin, chiếc nhẫn ma thuật trao cho Freya, chiếc búa Mjölnir trao cho Thor. Như vậy, bằng chuỗi những trò đùa nghịch tinh quái của mình, Loki đã làm giàu cho các vị thần. Hơn thế nữa, chiếc búa chính là vũ khí quan trọng để Thor bảo vệ thế giới các vị thần khỏi những người khổng lồ băng giá.

Khái niệm hề rất đa dạng, đó có thể là một loại hình nhân vật chức năng trong nghệ thuật (sân khấu, văn học), một vai trò trong các nghi thức lễ hội dân gian, một loại nghề nghiệp, một loại người trong xã hội. Nguyên nhân một phần là do tình trạng nguyên hợp các hình thái ý thức xã hội: nghệ thuật, tôn giáo, sinh hoạt đời sống. Bakhtin nhận xét rất chính xác về hề: “Những nhân vật như anh hề và những chàng ngốc rất đặc trưng cho văn hóa trào tiếu trung cổ. Họ dường như là đại diện thường trực của nhân tố hội hè giả trang được kí thác vào cuộc sống thường nhật (phi hội hè) […]. Với tư cách những anh hề và chàng ngốc, họ là chủ thể của một hình thức sống đặc biệt, hình thức vừa hiện thực lại vừa lý tưởng. Họ sống nơi giới tuyến giữa cuộc sống và nghệ thuật (tựa hồ khu vực giáp ranh đặc biệt): đó không đơn thuần là những người lập dị hoặc ngốc nghếch (theo nghĩa đời thường), song cũng không phải là những diễn viên hài kịch” (7,30). Thật ra trong vai trò nào, thì bản chất của hề không thay đổi, đó là sự tồn tại ở lằn ranh giữa các thế giới, chơi giỡn và cuộc sống (nghệ thuật và các nghi thức lễ hội chính là những biểu hiện khác nhau của các trò chơi).

Ở châu Âu thời Trung cổ, những diễn viên hài dân gian của Roman được xem là tiền thân trực tiếp của hề. Trong các triều đình khắp châu Âu thời Trung cổ và Phục hưng, hề được nuôi để diễn trò, mua vui cho vua, hoàng hậu và các quan lại. Một vài hề cung đình nổi tiếng có thể kể đến: Will Sommers (đời vua Henry VII), Jeffrey Hudson (vua Charles I), với biệt danh “Tên lùn hoàng gia” (The Royal Dwarf). Những tên hề này đều rất nổi tiếng, trở thành đề tài của văn học và kịch. Ngoài ra cũng có thể kể đến tên hề của vua Lear trong kịch Shakespeare. Hề của vua Lear, trong vài trường hợp, có thể trở thành người phát ngôn của chủ nhân. Thậm chí tên hề còn giễu cợt, buộc tội chủ nhân của mình vì sự ngu ngốc. Hắn đề nghị vua Lear, người vừa cho đi ngai vàng, “Ông tốt nhất nên đội mũ của tôi” (You were best take my coxcomb)[3], với hàm ý mỉa mai sự ngu ngốc, hồ đồ của vua Lear.

Bên cạnh hề cung đình, thời Trung cổ và Phục hưng châu Âu, hề diễn trò ở những quảng trường, những lễ hội dân gian. Hề có thể được sắc phong trong các nghi thức dân gian thời Trung cổ và Phục hưng châu Âu. Có thể kể đến Linh mục hề. Đó là nhân vật trung tâm của một lễ hội tôn giáo có tên là “The Feast of Fool”, tổ chức ở thời Trung cổ và Phục hưng châu Âu ở trong các nhà thờ và thánh đường vào đầu năm mới. Linh mục hề thống lĩnh các nghi thức đảo ngược và giễu nhại có tính chất bất kính, giễu cợt trên nhiều phương diện đối với lễ Mass. Trong The Feast of Fool, những bài thánh ca bị thay thế bởi các yếu tố dung tục những lời nói lắp bắp. Cách ăn mặc truyền thống của giáo sĩ bị chế nhạo bởi các loại mặt nạ, quần áo mặc trái, nam mặc trang phục nữ, khỏa thân thay thế cho áo choàng. Sự linh thiêng của gian thờ bị xâm phạm bởi sự xuất hiện của con lừa, bởi những hành động lỗ mãng, những trò chơi báng bổ. Lễ dâng hương và ban thánh thể bị lộn ngược bởi giày cũ và những chiếc bánh pudding ăn dở (thay vì bánh thánh). Kịch bản các nghi thức Feast of Fool chính là sự giễu nhại những nghi thức của lễ Mass, trang phục của nó nhạo báng trang phục thầy tu, những lời hát của nó xuyên tạc các bài thánh ca, và các hành động của người tham gia nghi lễ là một sự chế nhạo đối với giáo hội. Linh mục hề và hội The Feast of Fool thách thức, hạ bệ và lộn trái quyền lực chính trị của giáo hội. Trong đó xuất hiện cả nghi thức nâng và hạ, sắc phong tên hề lên làm Linh mục để hạ bệ quyền lực và tính chất tuyệt đối của cái thiêng.

Truyền thống hề ở Trung cổ châu Âu kết thúc vào thế kỉ XVIII. Sự kiện đàn áp hề ghi nhận được là sau cuộc nội chiến Anh (1642 – 1651), Oliver Cromwell lên nắm quyền, đã không nhân nhượng trước những trò mua vui của hề. Và ngay cả sau đó, vào thời vua Charles II lên nắm ngôi, truyền thống này cũng không được nối lại. Sau nước Anh, một vài quốc gia khác vẫn còn duy trì truyền thống hề được một thời gian, sau đó thì lụi tàn.

Ở châu Á, hề xuất hiện trong các nghệ thuật sân khấu dân gian. Hí kịch Trung Quốc là loại hình sân khấu độc đáo với các lớp mặt nạ truyền thống, tương ứng với nhiều cảm xúc đa dạng: phô trương, mặt lão, tương ứng với các vai hoạn quan, tiên, yêu quái… Riêng hề cũng có nhiều loại hề dân (Civilian), hề ác (Ugly) và hề lính già (Old warrior). Một trong những nguồn gốc của hí kịch là bài ưu, một loại tuồng hoạt kê. Dưới thời Đường, bài ưu phát triển thành Tham quân hí, gồm hai vai tham quân (người ăn mặc tề chỉnh, áo xanh, thông minh lanh lợi) và thương cốt (người ăn mặc lôi thôi, khờ khạo và đần độn). Hai nhân vật này đối đáp khôi hài trào lộng. Có khi tham quân bị thương cốt châm biếm, chế nhạo. Tham quân và thương cốt chính là những dạng nhân vật hề trong nghệ thuật hí kịch Trung Hoa. Nhân vật hề (vai sửu) có vị trí quan trọng trong Kinh kịch, mặt nạ hề chiếm số lượng lớn: Xét trên chức năng hí kịch của kiểm phổ, dù nhân vật thuộc thể loại vai nào đều có thể vẽ kiểm phổ, khi cần thiết phải làm nổi bật hình tượng và diện mạo của nhân vật. Thường thì hai dạng nhân vật Tịnh (vai tà) và Sửu (vai hề) có nhiều kiểm phổ nhất. Thông thường, đối với những khán giả thích kiểm phổ thì đại đa số đều tập trung quan sát vai Tịnh, nhưng vai Sửu trong Kinh kịchmới là dạng vai đầu tiên được vẽ kiểm phổ trong lịch sử Kinh kịch... Kiểm phổ của các nhân vật khác nhau cũng có sự khác biệt rõ nét. Nhưng so ra thì kiểm phổ của vai Sửu lại đơn giản hơn vai Tịnh, nhưng các nhân vật hàng Sửu lại đa dạng và phức tạp hơn nhiều, hiệu quả nghệ thuật diễn xuất cũng khá nổi bật so với vai Tịnh. Vì vậy kiểm phổ của vai Sửu vừa tinh tế và có chiều sâu hơn, không phải đơn thuần chỉ vẽ mấy “mảng đậu phụ” (mảng màu trắng to bằng một miếng đậu phụ được vẽ ở giữa mặt) mà thôi, và cho dù chỉ là vẽ “mảng đậu phụ” như nhau, nhưng vị trí vẽ và kích thước to nhỏ cũng sẽ mỗi người mỗi khác, và cũng tùy theo từng vở kịchTrong vai Sửu, có một số đóng vai nham hiểm, gian xảo, tham lam, ích kỷ, nhưng nhiều hơn hết là các vai thông minh, lanh lợi, cảnh giác, hài hước, thậm chí còn rất ngay thẳng, chính trực, hiền lành. Trong hí kịch truyền thống, thông thường những nhân vật có địa vị không cao đều do vai Sửu đóng. Nhưng xét về tính cách, những người này đa phần đều rất hài hước, hoạt bát, khá lạc quan. Phải nói rằng nhân vật thuộc hàng Sửu nhiều hơn các vai Sinh, vai Đán và vai Tịnh, từ hoàng thượng, tướng quân, thừa tướng, cho đến tầng lớp bình dân, những người què, điếc, mù, câm, nam, nữ, già, trẻ, người tốt, người xấu, trung thần, kẻ gian đều có thể dùng vai sửu để thể hiện[4].

Ở Việt Nam, nhân vật hề xuất hiện trong loại hình sân khấu dân gian: chèo. Hề là một trong năm loại nhân vật truyền thống của chèo: đào, kép, lão, mụ, hề. Hề là nhân vật có vai trò giữ duy trì không khí hài hước, vui nhộn của vở chèo, phát triển các yếu tố gây cười từ các sáng tác dân gian, hề chèo giúp người xem có được tiếng cười vui tươi, sảng khoái. Hề chèo chia làm hai loại, hề áo dài và hề áo ngắn: “Hề áo ngắn gồm có hề Gậy và hề Mồi. Hề Gậy thường là các anh chàng hề đồng lóc cóc chạy theo hầu thầy trên đường thiên lý, khi ra sân khấu, do thường mang theo gậy đường trường hoặc cây đòn gánh, nên gọi nôm na là hề Gậy. Hề Mồi là những nhân vật hầu hạ sai vặt , điếu đóm trong nhà hoặc lính canh, lính hầu nơi quan phủ, tư dinh… Nhân vật này ra sân khấu thường mang theo chiếc mồi quấn bằng giẻ tẩm mỡ, tẩm dầu đốt sáng như đuốc. Bó đuốc này còn tượng trưng cho bó đuốc dùng chiếu sáng canh phòng, dinh thự… Do thân phận hầu hạ, hề Mồi hay ra trước dọn dẹp cung đình, đón quan đủng đỉnh ra sau, nên có thể gọi là những anh hề dọn lớp hoặc dọn dẹp đám. Loại thứ hai của hề chèo là hề áo dài (còn gọi là hề Tính cách). Những nhân vật này thường hả hê vui sướng tự giễu cợt mình, tự lột mặt nạ bản thân và tự đẩy mình vào tình huống lố bịch. Loại hề này cười cợt trên sân khấu chèo sân đình với đủ mọi giọng điệu phong phú: giễu vui, đả kích, đùa bỡn, trêu chọc, nghịch ngợm… với mục đích tự bôi bác mình. Nhiều thủ pháp sân khấu hề chèo được sử dụng đắc địa và gây cười rất có hiêu quả trong trò diễn và trò nhời của nhân vật hề, với các thủ pháp gây cười dân gian; trò nhái (ứng khẩu và ứng diễn) chơi chữ, pha trò… tình huống hiểu lầm, mai phục, đố vui, giả vờ ngốc, phóng đại hoàn cảnh tức cười bất ngờ… là những biện pháp mỹ học khá thú để hề chèo đạt tới tầm cỡ của hài kịch”[5].Đến thời Lê Mạt, hề chèo có thêm chức năng đấu tranh giai cấp. Thông qua những trò diễn hài hước, châm chọc, giễu nhại, mỉa mai, hề bóc trần bộ mạch của giai cấp thống trị. Màn Việc làng là lớp hề thể hiện rõ nhất chức năng này. Với các màn đối đáp thông minh, giễu cợt và tự giễu cợt, các nhân vật hề của màn “Việc làng” như mẹ Đốp, Hương Câm, Đồ Điếc đã cho thấy bản chất phi nhân của giai cấp thống trị và phê phán các tục lệ chà đạp lên con người, thông qua một lát cắt đậm đặc của hiện thực: một buổi họp các vị chức sắc trong làng để ăn khoán.

Tóm lại, có thể thấy, hề là một hiện tượng văn hóa toàn cầu, có mặt ở nhiều nền văn hóa từ châu Âu, châu Phi, châu Á, có một lịch sử phát triển từ thời kì xa xưa của các thần thoại, cho đến ngày nay. Sự phổ biến của hề có tính chất nhân loại. Bởi hề gắn với yếu tố tiếng cười. J.J.M Askenasy cho rằng: “Tiếng cười là hình thức giao tiếp nguyên thủy có thể được thấu hiểu bởi toàn bộ xã hội loài người bất chấp sự khác biệt về ngôn ngữ”[6]. Charles Darwin là người đầu tiên chi ra rằng tiếng cười chính là một hiện tượng độc đáo chỉ có ở riêng loài người, phát triển ở vỏ não cùng lúc với sự xuất hiện của tiếng nói. Có thể nói, tiếng cười là một bằng chứng của nhân tính, phân biệt con người với con thú. Không có một quốc gia, một dân tộc nào không cần đến tiếng cười, và do đó, ở khắp mọi nơi, nhân vật hề - nghệ sĩ của tiếng cười xuất hiện.

Sự phổ biến của hề còn có thể lí giải dưới góc độ tính quốc tế của loại nhân vật này. Thời Roman, các hoàng đế cho những trò đùa của hề có hại cho xã hội, và đã khủng bố lớp người này. Sự khủng bố, đàn áp dẫn đến sự di dân của hề đến các vùng đất mới, để tìm lớp khán giả mới và tiếp tục hành nghề. Ngày  nay, trong thời kì toàn cầu hóa với sự đa dạng của văn hóa đại chúng, tính chất toàn cầu của hề vẫn được giữ nguyên. Nhân vật hề hòa vào các loại hình nghệ thuật đương đại như điện ảnh, xiếc… và cùng với sự phủ sóng toàn cầu của các loại hình nghệ thuật này, nhân vật hề có mặt khắp nơi trên thế giới.

1.2.           Đặc trưng của nhân vật hề

Ở phần trên, chúng tôi đã trình bày khái quát về lịch sử phát triển của hề. Hề mỗi quốc gia, mỗi loại hình nghệ thuật đều có những tính chất, đặc điểm khác biệt, thể hiện đặc trưng loại hình nghệ thuật cũng như đặc trưng văn hóa của từng quốc gia. Nhưng đã là vai hề thì phải có những đặc tính chung dưới đây.

1.2.1.     Tính tạo hình của hình tượng nhân vật hề

Hình tượng nghệ thuật là người lạ mặt quen biết, là tổng hòa của cái chung và cái riêng, tập thể và cá thể. Khác với các ngành khoa học, loại  bỏ các yếu tố cá thể để khái quát thành những định lý, định đề, nghệ thuật quan tâm cả đến những yếu tố cá thể, đi sâu vào khai thác cái riêng, vào ấn tượng chủ quan. Tạo hình và biểu hiện là đặc trưng của tư duy nghệ thuật. Tchaikovski nói: “Tôi không bao giờ sáng tác một cách trừu tượng, nghĩa là bao giờ tư tưởng âm nhạc cũng hiện ra trong tôi dưới một hình thức bề ngoài thích ứng với nó. Như vậy, tôi phát hiện ra tư tưởng âm nhạc cùng một lúc với sự phối khí.[7]. Tạo hình là thao tác cụ thể hóa hình tượng trong trí tưởng tượng của người nghệ sĩ bằng cách tạo ra các thông tin về ngoại hình, về không gian, về thời gian.

Về ngoại hình, hề thường được tạo hình theo thủ pháp nghịch dị (grotesque). Nghịch dị là “một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, cái giống thực với cái  biếm họa […]. Nghệ thuật nghịch dị là một kiểu ước lệ đặc thù: nó công nhiên và chú ý trình bày một thế giới dị thường, trái tự nhiên”. Nghịch dị có thể hiểu theo ba tầng nghĩa. Thứ nhất, đó là sự phá vỡ những logic thông thường. Thứ hai, về mặt mỹ học, đó là sự phá vỡ những khuôn vàng thước ngọc của chủ nghĩa cổ điển. Thứ ba, về mặt sinh lý học, đó là sự thổi phồng, phóng đại những bộ phận nhạy cảm của cơ thể với ý nghĩa phồn thực. Ngoại hình nghịch dị khiến hề khác biệt so với phần còn lại của thế giới. Vicki K Janik trong phần Dẫn nhập (Introduction) của cuốn Fool and Jesters in Liturature, Art and  History, đã chỉ ra hai dạng trang phục của hề. Dạng thứ nhất, đó là dáng vẻ ngu ngốc, hậu đậu, có thể có mối quan hệ với gốc từ “clown” trong tiếng Anh (liên quan đến “clod”, “clot”, “lump” nghĩa là cục mịch, đần độn). Trang phục của tên hề loại này thường rộng thùng thình, rách rưới, tơi tả, thường mặc chiếc áo choàng dài cáu bẩn, với chiếc giày to quá cỡ, nhấn mạnh vào sự mất cân đối. Loại trang phục này thường thấy ở hề châu Âu dưới thời Trung cổ và Phục hưng. Loại trang phục thứ hai của hề được thiết kế theo kiểu harlequin (một loại hề trong thể loại sân khấu Commedia dell'arte của Ý), màu sắc sặc sỡ, trang phục bó sát hoặc vẽ trên cơ thể, được trang trí màu mè với những phụ kiện lấy cảm hứng từ thiên nhiên. Huyền thoại sáng thế của người Jemez kể rằng những người chết đói được cứu bởi thần mặt trời, khi thần chọn ra một trong số họ, sơn lên người anh ta những sọc trắng của ngựa vằn, trang trí đầu anh ta bằng lông đại bàng và vỏ ngô, bổ nhiệm anh ta thành “người vui vẻ”, cứu những người bạn của anh ta khỏi cái đói bằng cách làm cho họ cười. Anh hề Korshare của tộc người da đỏ Acoma trình diễn xuyên suốt các nghi thức tôn giáo với cơ thể chỉ mặc duy nhất một chiếc khố, toàn thân sơn trắng, miệng và hốc mắt tô đen, với vỏ ngô ở tóc, gỗ hóa thạch ở thắt lưng và mai rùa ở trên hai đầu gối.

Trong quan hệ với không gian và thời gian, hề có tính chất bí ẩn và không xác định. Rất khó xác định tuổi của một tên hề. Người ta thường nghĩ hề là một đứa trẻ. Ví dụ tên hề của vua Lear, vua vẫn thường dùng từ “cậu bé” để gọi hắn. Merry Report trong vở Staging the Henrician court cũng được nhân vật Jupiter gọi là “cậu bé”. Hề Harpo Marx cũng vậy, hắn bắt chước cử chỉ của một đứa trẻ trong phim Animal Crackers (1920), với nụ cười vô hại khi một người phụ nữ nói với hắn: “Ta thích những đứa trẻ giống em. Em bao nhiêu tuổi?”, và hắn giơ năm ngón tay để trả lời. Một số nhân vật hề nhấn mạnh sự giống trẻ con của mình bằng giọng falsetto. Lucy Ricardo, Gracie Allen, Stan Laurel, Lou Costello, Ed Norton, Jerry Lewis thường nâng tông giọng lên, nhất là những khi họ cần thanh minh về hành động ngốc nghếch của mình. Một số hề rất khó xác định tuổi, ví dụ như Charlie Chaplin, Keaton, Croucho, bởi lớp phấn trang điểm đậm trên gương mặt những nhân vật hề này không thay đổi trong nhiều thập niên. Tính chất khó xác định tuổi của hề có thể có nguồn gốc từ những nhân vật hề trong xã hội cũ. Những anh hề này thường là những người vô gia cư và không có gia đình, kiếm sống bằng những trò hề ngốc nghếch. Ở La Mã cổ đại, những anh hề thường bám theo những gia đình giàu có để được mời ăn tối bằng cách hứa hẹn với gia chủ về những trò giải trí, đùa cợt hài hước. Khác với người ăn xin, hề trình diễn những điểm yếu (thật hoặc giả vờ) để lấy tiền và thực phẩm. Hề tồn tại bằng cách mua vui, cải trang, đóng giả, nên tuổi và danh tính của hề trong xã hội không được quan tâm. Hề không thực sự tồn tại ở một thế giới nào, mà hắn ta đứng ở lằn ranh giữa các thế giới. Các diễn viên Taishu Engeki của Nhật thường rời khỏi sân khấu và tiến về phía khán giả để tương tác với họ, ở đây đường biên sân khấu nghệ thuật và đường biên đời sống hòa nhập (bản thân Taishu Engeki là một nghệ thuật đại chúng và gần gũi, sân khấu của nghệ thuật này thấp và rất gần với khán giả), và tồn tại ở giữa đường biên ấy chính là anh hề. Anh hề trong các carnaval Trung cổ và Phục hưng châu Âu cũng ở lằn ranh giữa các thế giới. Thời gian carnaval tạo ra thế giới ở trạng thái hai thế giới song trùng, thế giới đời thực và thế giới hội hè giả trang hòa trộn, phá vỡ đường biên và lẫn vào nhau. Anh hề carnaval tồn tại ở đường biên giữa các thế giới. Anh ta sống như diễn, và bản thân sự trình diễn đối với anh ta chính là sự sống. Ngôn ngữ hề bị đảo lộn: tiếng khen và tiếng chửi hòa lẫn vào nhau, các hành động đánh đập vừa có tính chất nghi thức vừa có ý nghĩa hiện thực.

1.2.2.     Nhân vật hề và yếu tố tiếng cười

Về mặt nội dung tiếng cười, C. Todd White, trong bài viết “The Anthropology of Fools”, đã chỉ ra bốn chủ đề gây cười mà hề hay sử dụng, dựa trên bốn chủ đề hài hước trong đời sống toàn cầu được đưa ra bởi nhà nhân chủng học Julian Steward vào cuối thập niên 1920.

1) Hề thường đùa cợt và nhạo báng những gì thiêng liêng. Cái thiêng ở đây không chỉ thu hẹp trong phạm vi tôn giáo. Nó còn có thể là tư cách chính trị, địa vị xã hội, những nhân vật nổi tiếng được xã hội trọng vọng. Những người có địa vị cao và có uy tín trong xã hội thường trở thành chủ đề cho những lời giễu cợt, đả kích. Có thể kể đến trường hợp những nhân vật hề chuyên nghiệp trong các hoàng cung xưa, ở một vài khía cạnh, những trò hề của họ gợi nhắc cho chủ nhân về sự nhất thời của quyền lực. Hề đại diện cho sự thật, và một cách nghịch lý, những trò đùa cợt ngu ngốc của hề can gián chủ nhân phạm vào những điều ngu ngốc. Mặt khác, những nhân vật trong triều đình thường bị hề giễu cợt, đùa vui để mang đến tiếng cười, giải tỏa căng thẳng liên quan đến các vấn đề trong triều chính. Ngay cả những nghi thức thiêng liêng cũng hàm chứa sự cười cợt. Trong nhiều nền văn hóa, một vài nghi thức và nghi lễ có bề ngoài chống lại trật tự, nhưng bên trong chính là một cách duy trì trật tự.  Rất nhiều nghi lễ có các nghi thức nghịch đảo, nam mặc đồ nữ, nữ đóng vai trò của nam, con người đóng giả con vật… Bởi các mối quan hệ đùa giỡn thân tình có tác dụng nuôi dưỡng sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng. Max Gluckman, trong cuốn Custom and Conflict in Africa, đã đề cập đến một nghi lễ giữa các thị tộc khác nhau của người Tonga ở miền Bắc Rhodesia. Họ thiết lập một mối quan hệ đùa cợt có tính chất nghi thức giữa các thành viên trong các thị tộc khác nhau. Những thành viên trong các nhóm đùa cợt này thực hiện nghĩa vụ xã hội có tính chất qua lại, họ đùa cợt, trêu chọc và thông qua đó chỉ trích đối phương. Và như vậy, mỗi người tham gia nghi thức này đều đóng vai trò của người khuyên răn, can gián. Thực chất, mối quan hệ này là sự kết hợp giữa tình bạn và sự phản kháng, sự đóng giả và sự thù địch, trong khuôn khổ một bầu không khí thân thiện, có tác dụng duy trì khuôn khổ xã hội, sự tôn trọng lẫn nhau và sự liên minh vững chắc giữa các thị tộc.

2) Hề thường cười nhạo người ngoại quốc hoặc những người lạ. Todd cho rằng, việc nhạo báng và tuyên truyền có tính chất đùa cợt này nhằm mục đích hạ bệ uy tín đối phương và nâng nhuệ khí quốc gia. Một vài ví dụ hiện đại có thể kể đến những vai diễn trào phúng có tính chất chính trị của Bob Hope, và vai diễn của Joel Gray trong vở nhạc kịch Cabaret. Tiếng cười chính là một lối thoát, là một cách giải tỏa tâm trạng thù địch, sự đua tranh và tâm trạng vỡ mộng. Trong các màn chuyển tiếp trong lễ hội của người Kwwakiutl, xuất hiện các màn chuyển tiếp giễu nhại người da trắng. Những người thổ dân bản địa đóng vai cảnh sát, chánh án, thẩm phán. Một người phụ nữ bị bắt vì vắng mắt trong phần đầu của buổi lễ, bị xét xử và kết án 70 dollars, tương đương với những tấm chăn sẽ được phân phát cuối buổi lễ nhân danh người phụ nữ đó, như những món quà. Thật ra, tiếng cười có thể giảm thiểu hoặc khích động bạo lực. Mười ba trên hai mươi chín lần xuất hiện từ “laughter” (tiếng cười) trong Kinh Thánh đều liên quan đến bạo lực[8]. Những trò đùa cợt có thể duy trì tình bạn, hoặc cũng có thể cô lập những người lạ, tạo ra những cuộc tàn sát hay những trận chiến.

3) Nội dung liên quan đến tình dục và các nội dung có tính chất tục tĩu cũng thường được hề sử dụng. Bakhtin đã chỉ ra trong Gargantua và Pantagruel những biểu tượng của dương vật như những tháp chuông, những ống khói, cái mũi được phóng to. Bên cạnh đó, cũng có thể thấy tục thờ dương vật rất phổ biến trong nhiều  nền văn hóa, ví dụ như tộc Pueblo ở phía tây Nam Mỹ. Một vài anh hề zuni sẽ đeo những dương vật giả mà anh ta dùng để chọc hay để vuốt ve. Những linh hồn kachina của người Hopi mang mặt nạ được trang trí bởi những biểu tượng có hình dương vật. Đây là những nghi thức xa xưa có tính chất phồn thực, nó gắn liền với tư duy nguyên hợp của người nguyên thủy, cho rằng con người là một phần của vũ trụ. Gắn với bộ phận sinh dục, các chất thải cũng là những yếu tố tục tĩu mà hề hay sử dụng. Bakhtin viết về phân: “Phân – đó là một thứ vật chất vui vẻ. Trong các hình tượng cổ xưa nhất về phân, như chúng tôi đã nói, phân gắn liền với sức sản xuất và độ phì nhiêu. Mặt khác, phân được tư duy như cái gì đó trung gian giữa đất và cơ thể con người, một cái gì đó có họ mạc với nhau. Phân cũng là cái gì đó trung gian giữa cơ thể sống và xác chết, cái đang phân hủy, biến thành đất, thành phân bón, cơ thể ban phân cho đất khi còn sống, phân, cũng như xác người chết, làm cho màu mỡ đất đai”(7, 281). “Hành động hất phân, xối nước tiểu, các câu chửi phủ dầy cứt đái dành cho thế giới cũ đang chết đi (đồng thời đang ra đời) – chính là đám tang vui vẻ cho nó, hoàn toàn tương ứng như việc ném xuống mồ những nấm đất âu yếm hoặc gieo hạt – ném những hạt giống xuống rãnh cày (vào lòng đất) (nhưng trên bình diện trào tiếu)” (7,282).

4) Hề giễu cợt những tổn hại, những bi kịch, bệnh tật, nhu cầu cả về thể xác lẫn tinh thần. Những nghi thức giễu cợt kể ở trên là hoàn toàn xa lạ với văn hóa Mỹ đương đại. Mỹ không có hiện tượng hề cung đình. Những trò đùa cợt, nhạo báng tình dục ở các hộp đêm, công viên thường bị cấm, và việc cười nhạo người lại dường như chống lại lý tưởng dân chủ của người Mỹ. Cho nên, sự giễu nhại những tổn hại về thể xác hay tinh thần, bệnh tật trở thành nội dung chủ yếu của những chú hề Mỹ. Những hình thức đánh đập rất phổ biến trong các bộ phim hài, từ Three Stooges đến Charlie Chaplin, chúng có tính châm biếm, hài hước, mang lại tiếng cười vui vẻ cho người xem. Sự giễu cợt cái chết cũng là một nội dung phổ biến của hề. Với người Hopi, khi anh hề (mà họ rất quý trọng) chết, họ hàng của anh ta sẽ di chuyển cái xác lên mái của một tòa nhà gần trung tâm làng. Vừa hét “Yaahay!”, họ vừa liên tục lắc lư phần thân trên của cái xác, đến lần thứ tư thì thả cái xác rơi huỵch xuống đất. Đây được xem là nghi thức diễn trò cuối cùng của anh hề, có ý nghĩa giễu cợt cái chết và sự hữu hạn thân xác của loài người. Tên hề carnaval cũng thường gắn với các hình tượng hội hè dân gian, trong đó có đám ngáo ộp vui vẻ, là những con quỷ giễu hành khắp nơi thông báo cho mọi người về sự khởi đầu của hội hè. Thực chất, đám ngáo ộp vui vẻ chính là sự cười nhạo cái chết. Cảm quan carnaval giúp con người chiến thắng nỗi sợ hãi cái chết, bởi cái chết hòa vào thân xác toàn dân không phải sự phủ nhận cuộc sống, mà chính là một phần của cuộc sống, cái chết là điều kiện tất yếu cho sự hồi sinh.

Về hình thức trình diễn của hề, có thể kể đến một vài hình thức phổ biến sau:
1) Giễu nhại: Chính là sự bắt chước và châm biếm một đối tượng nào đó. Giễu nhại có nhiều phương diện: Nhại hình thức (Charlie Chaplin nhại chân dung của Hitler, trở thành hình ảnh phản chiếu qua tấm gương cười của tên độc tài gây nỗi sợ hãi cho toàn thế giới), nhại ngôn ngữ (Mẹ Đốp nhại lại những lời của xã trưởng, “bốc mồm” xã trưởng cho vào vạt áo), nhại thể loại văn học (Forrest Gump từng tham gia diễn vở Vua Lear ở trường đại học, và vở kịch bị phá vỡ một cách khôi hài)… Sự giễu nhại có thể nhằm mục đích tạo tiếng cười vui vẻ, duy trì không khí hài hước, cũng có khi là một sự châm biếm, đả kích đối tượng trào phúng.
2) Các hành vi đánh đập, bạo lực:Đối với carnaval châu Âu Trung cổ và Phục hưng, các màn đánh đập, bạo lực là biểu hiện của mối quan hệ suồng sã nơi quảng trường hội hè, với mục đích thu hẹp khoảng cách giữa người với người để mọi người đạt đến trạng thái tự do, bình đẳng, dân chủ của hội giả trang. Các hành vi đánh đập còn có ý nghĩa hạ bệ, ví dụ như nghi thức đánh đập và lột trần vua giả (với ý nghĩa hạ bệ uy tín của cái nghiêm và cái thiêng), để giải phóng sự tự do và bình đẳng của nhân dân. Cái vai hề Mỹ rất phổ biến với các màn trình diễn đánh đập, có thể các anh hề trong rạp xiếc đánh nhau, ném những chiếc bánh ngọt vào mặt nhau, hay các màn đánh, tát, đấm trong phim Charlie Chaplin.
3) Ngôn ngữ suồng sã, thô tục, những lời chế nhạo, mỉa mai: Ngôn ngữ chính là trò chơi của tên hề, các biện pháp chơi chữ nói lái, mỉa mai, các lời lẽ chửi bới, xúc phạm, những lời tục tĩu… đều được hề sử dụng như một thủ pháp gây cười và hạ bệ đối tượng. Tên hề của vua Lear đã mỉa mai vua khi đánh mất ngai vàng: “Ngài tốt nhất nên đội chiếc mũ của tôi” (Mũ coxcomb với tai lừa đặc trưng của hề). Hay như Forrest Gump, anh hề ngây thơ kể lại câu chuyện của mình trong tiểu thuyết cùng tên của Winston Groom cũng sử dụng rất nhiều từ văng tục: “cứt đái”, “như cứt”… Ngôn ngữ của Forrest Gump phản chiếu không gian ngôn ngữ của xã hội, với đủ loại người suồng sã, thô kệch, giả trá. Qua ngôn ngữ suồng sã ấy, bản chất giấc mộng bá chủ của xã hội Mỹ nhưng năm 1970 (với giấc mộng vĩ cuồng vươn ra thế giới và vũ trụ) bị mang ra giễu cợt, cười nhạo. Forrest Gump, cả trong tiểu thuyết lẫn trong phim ảnh, được xem là “một ẩn dụ về nỗi hoài niệm đầy mời gọi mà trong đó, anh ta như một phiến đá trống để thế hệ Baby Boomer (thế hệ sinh ra sau Thế chiến Hai) phóng chiếu kí ức của họ lên đó”[9].

Thông qua yếu tố tiếng cười, hề thực hiện các chức năng của mình.Hề có ba chức năng cơ bản sau: chức năng thẩm mỹ - giải trí, chức năng nhận thức – can gián, chức năng tố cáo, đấu tranh xã hội. Mục đích trước tiên của hề bao giờ cũng là mang lại tiếng cười sảng khoái cho người xem. Nhưng tiếng cười của hề bao giờ cũng có một ý nghĩa xã hội nhất định. Hề carnaval với ngoại hình nghịch dị và ngôn ngữ suồng sã quảng trường, mang đến tiếng cười với mục đích mở rộng giác độ thế giới quan và giải phóng con người, thông qua việc phá vỡ các quy tắc giao tiếp và quan hệ thứ bậc thông thường. Socrates (với tư cách nhân vật) trong trước tác của Plato và Aristophanes cũng hiện lên là một anh hề mang đến tiếng cười triết học với một loạt các nghịch lý (câu danh ngôn quen thuộc: “tôi biết rằng tôi không biết gì cả”). Sự minh triết hòa trộn với sự ngốc nghếch, thừa nhận những nghịch lý như một điều tất yếu, tiếng cười Socrates đưa đến bầu không khí dân chủ nơi không ai độc tôn chân lý và tất cả cùng tìm kiếm con đường tiệm cận chân lý thông qua hình thức đối thoại. Cái hài của hề đôi khi gắn liền với cái bi. Tiếng cười carnaval là cái hài trong cái bi, người ta cười khi nhận ra sự bi đát của đời sống, cười hả hê trong cái không gian thứ hai đầy hữu hạn được tạo lập để tạm thời giải thoát con người khỏi cuộc sống ngột ngạt, tù túng. Như vậy, thông qua tiếng cười, hề giúp chúng ta nhận thức thế giới. Forrest Gump trong chuyến hành trình đầy ngẫu nhiên của mình đã vẽ ra bối cảnh thời đại rộng lớn về mặt không gian (Mỹ, Việt Nam, Trung Quốc, vùng rừng núi Nam Mỹ, ngoài vũ trụ) và thời gian (kéo dài suốt cuộc đời Forrest Gump từ lúc nhỏ đến tuổi trung niên), nó thâu tóm toàn bộ sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến xã hội Mỹ trước, trong, và sau Thế chiến Hai. Qua đôi mắt khờ khạo của một tên ngốc, tất cả những sự kiện, những biến động gây xáo trộn lớn trong lịch sử dường như đều vô nghĩa. Lao vào cuộc chiến ở Việt Nam không hiểu tại sao, ngẫu nhiên được huy chương, không hiểu tại sao mình bị bắt, và bằng cách nào trở thành anh hùng thám hiểm vũ trụ… Với cuộc đời đầy ắp sự kiện nhưng trống rỗng về ý nghĩa, Forrest Gump cho ta thấy cả một thời đại bị cuốn vào những giá trị vật chất và đánh mất đi những giá trị sống đích thực, nơi hạnh phúc cá nhân bị chôn vùi trong giấc mơ Mỹ. Cuối cùng, từ sự nhận thức hiện thực, hề đóng góp quan trọng vào quá trình đấu tranh xã hội, đòi lại công bằng cho nhân dân. Hề chèo của Việt Nam, từ thời Lê Mạt đã là vũ khí đấu tranh xã hội mạnh mẽ, cùng với nghệ thuật trào phúng dân gian đã đả kích gay gắt bộ máy thống trị suy thoái, gây đói khổ cho nhân dân. Hề carnaval tạo điều kiện để hạ bệ những tư tưởng chính thống, hạ bệ quyền lực của giai cấp thống trị và cái thiêng của nhà thờ, tạo điều kiện cho nhân dân và người nghệ sĩ mở rộng giác độ thế giới quan, hoàn toàn tự do tư tưởng, không ngần ngại chạm đến những chủ đề bị cấm đoán. Có khi, hề đứng trên lập trường nhân loại để chống lại thế lực độc tài, phi nhân. Có thể kể đến trường hợp tiêu biểu, Charlie Chaplin trong tác phẩm nổi tiếng The Great Dictator đã giễu nhại Hitler và đã có bài diễn văn đầy thuyết phục về hòa bình cho nhân loại:

“Tôi xin lỗi. Tôi không muốn làm một đại đế. Đó không phải là công việc của tôi. Tôi không muốn thống trị hay chinh phạt ai cả. Trong khả năng của mình, tôi muốn giúp đỡ mọi người — Do-thái, không Do-thái, da đen, da trắng.
Tất cả chúng ta đều muốn giúp đỡ nhau. Con người là như thế. Chúng ta muốn sống vì niềm vui của nhau — không phải vì nỗi khốn khổ của nhau. Chúng ta không muốn thù ghét và khinh bỉ nhau. Thế giới này có đủ chỗ cho mọi người và quả đất tốt lành này thì giàu có và có thể nuôi sống mọi người.
Con đường của sự sống có thể là tự do và đẹp đẽ, nhưng chúng ta đã đánh mất con đường ấy. Sự tham lam đã đánh độc tâm hồn con người, đã vây hãm thế giới trong sự oán thù, đã xua chúng ta dấn bước vào sự lầm than và đổ máu. Chúng ta đã phát triển tốc độ, nhưng chúng ta đã giam hãm chính mình. Máy móc đáng lẽ mang đến cho chúng ta sự dư dật, thì lại khiến chúng ta đói rách. Sự hiểu biết của chúng ta đã làm chúng ta trở nên chua cay; sự khôn khéo của chúng ta đã làm chúng ta trở nên khắc nghiệt. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều và cảm nhận quá ít. Hơn cả máy móc, chúng ta cần tình người. Hơn cả sự khôn khéo, chúng ta cần sự tử tế và sự dịu dàng. Không có những phẩm tính này, cuộc sống sẽ trở nên cuồng bạo và chúng ta sẽ đánh mất tất cả”[10].

Tóm lại, từ những đặc điểm trên, ta thấy rằng hề là một nhân vật chức năng có vai trò quan trọng cả trong nghệ thuật lẫn trong đời sống. Các đặc trưng của nhân vật hề khiến hắn tách biệt hoàn toàn với phần còn lại của thế giới. Thông qua nhân vật hề, người nghệ sĩ có được một phương tiện phản ánh hiện thực rộng lớn và mạnh mẽ, bằng tiếng cười đã tự do bày tỏ quan điểm, kiến giải và dự báo hiện thực cuộc sống.

1.3.           Nhân vật hề và nhân vật hài trong tác phẩm văn học

Nhắc đến hề, có thể có ba cách hiểu: thứ nhất, đó là một loại nghề nghiệp, một loại người mua vui trong xã hội; thứ hai, đó là một kiểu nhân vật trong các nghi lễ tôn giáo và xã hội ở nhiều nền văn hóa; thứ ba, đó là một kiểu nhân vật chức năng trong tác phẩm nghệ thuật. Thật ra, ba cách hiểu này đều có cùng một bản chất, vì hề bao giờ cũng đứng trên lằn ranh giữa thực tế và huyễn ảo, giữa đời thường và ước lệ, giữa nghệ thuật và đời sống. Văn học nghệ thuật là tấm gương phản ánh đời sống, đã thấm hút các chất liệu nội dung và hình thức của đời sống (trong đó có hề) để làm phương tiện biểu hiện thế giới tư tưởng của người nghệ sĩ. Đối với văn học, hề là một kiểu nhân vật chức năng, có vai trò châm biếm, trào phúng, thể hiện tư tưởng của tác giả. Nhưng trong tác phẩm trào phúng, hề không phải là nhân vật duy nhất, và dường như các nhân vật trong tác phẩm trào phúng, không ít thì nhiều đều gắn với yếu tố tiếng cười. Như vậy, đâu là điểm khác biệt giữa hề và các nhân vật khác trong tác phẩm trào phúng? Nhân vật hài hiểu đơn giản là nhân vật trong tác phẩm trào phúng. Như vậy thì hề cũng là một kiểu nhân vật hài. Nhưng không phải nhân vật hài nào cũng là hề. Trong phần này chúng tôi đưa ra những ranh giới phân biệt kiểu nhân vật hề và tập hợp những nhân vật hài còn lại trong tác phẩm trào phúng.
Về mặt nội dung và hình thức tạo tiếng cười, không có sự phân biệt giữa nhân vật hề và các nhân vật hài khác. Việc cười nhạo cái thiêng, các chủ đề tình dục, các yếu tố tục tĩu, sự cười nhạo bệnh tật, cái chết và những sự tổn hại về thể xác, tinh thần là những chủ đề không xa lạ gì trong tác phẩm trào phúng. Trạng Quỳnh giễu cợt Chúa, thậm chí trêu ngươi thánh thần. Trong truyện Ba Giai Tú Xuất có đoàn hủi viếng quan phủ, tạo thành trò vui hiếm thấy. Các thủ pháp tạo tiếng cười có tính chất lạ hóa như phóng đại, giễu nhại, các lối nói mỉa mai châm chọc, các lối chơi chữ… cũng không độc quyền của hề trong các tác phẩm trào phúng. Về bản chất, sự khác biệt cơ bản giữa nhân vật hề và các nhân vật khác, đó chính là vị trí của nhân vật đối với thế giới trong tác phẩm. Các nhân vật thông thường hoàn toàn thuộc về thế giới trong tác phẩm, nó dự phần vào đó, bị chi phối bởi tình huống, nó ở cùng bình diện với thế giới mà nhà văn miêu tả. Ngược lại, hề vừa tham gia vào thế giới trong tác phẩm, vừa đứng ngoài thế giới đó, hề đứng ở lằn ranh giữa các thế giới. Như vậy, hề và các nhân vật hài khác không đứng cùng một bình diện. Điểm khác biệt cơ bản đó được biểu hiện cụ thể qua hai phương diện: ngoại hình nhân vật và mối quan hệ với tình huống gây cười.
Tiêu chí
Hề
Các nhân vật hài khác

Ngoại hình

Nghịch dị, phân biệt hề với phần còn lại của thế giới.

Phù hợp với tính cách và xuất thân, có thể trùng lắp.


Quan hệ với tình huống hài hước

Chủ động tạo ra tình huống hài hước thông qua các câu hỏi, các trò chọc ghẹo
Như các nhân vật trong tác phẩm tự sự khác, chịu sự chi phối của tình huống truyện (ở đây là tình huống hài hước), được đặt vào trong tình huống để làm bật lên tiếng cười.


Ví dụ tiêu biểu

-Forrest Gump
-Beghemot
-Hề của vua Lear
-Trạng Quỳnh
-Ba Giai, Tú Xuất
-Nhân vật trong các mẩu truyện cười
-Nhân vật trong truyện ngắn Chekhov


Thứ nhất, về mặt ngoại hình, hề nghịch dị khác hẳn với đám đông còn lại (những nhân vật hài khác). Những nhân vật hài khác có thể là những người rất bình thường, như trong truyện ngắn Chekhov, chúng ta có thể gặp họ ở bất kì đâu, đó có thể là một viên chức (như Cherviakov trong Cái chết của một viên chức), có thể là một viên cảnh sát (như Otrumelov trong Con kỳ nhông), có thể là một người gầy hay béo (Anh béo anh gầy)… Nhưng hề, trong tạo ngoại hình nghịch dị của hắn, đòi hỏi hắn là duy nhất được miêu tả theo cách như vậy trong thế giới mà hắn tồn tại. Không thể nhầm lẫn Forrest Gump với bất kì ai trong thế giới của hắn, vì hắn có ngoại hình to lớn, đần độn, thậm chí kì quái, đôi khi còn buộc chiếc bóng bay vào cúc áo để người ta có thể biết mình ở đâu. Beghemot, con mèo đi bằng hai chân sau, to như con lợn đực thiến trong Nghệ nhân và Margarita của Bulgakov gây sửng sốt cho bất kì người dân Moscow nào gặp hắn, vì sự kì dị và lạ lùng của hắn. Trong nghệ thuật sân khấu, như hí kịch hay chèo, phục trang của hề đều có những ước lệ riêng đảm bảo không nhầm lẫn hề với các loại nhân vật khác. Như vậy, ngoại hình của hề có tính duy nhất, và đó là cơ sở quan trọng để phân biệt hề với các nhân vật còn lại.
Cũng có trường hợp nhân vật được tạo dựng với thủ pháp nghịch dị, nhưng không phải là hề. Có thể kể đến gia đình cụ cố Hồng trong trích đoạn “Hạnh phúc một tang gia”, tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng. Nghịch dị là sự đảo lộn những quy luật đời thường. Bản chất vui tươi hoan hỉ của đám tang mang đậm chất nghịch dị. Những nhân vật trong đám tang đó cũng được tạo hình rất quái dị: cụ cố Hồng cố tình mặc áo bông giữa mùa hè, làm mọi cách để già hơn tuổi, ông Phán mọc sừng mặc cái khăn trắng to tướng, áo thụng trắng lòe xòe, bà Văn Minh diện những bộ trang phục tân thời, cô Tuyết gây ấn tượng bởi bộ trang phục nửa kín nửa hở, minh chứng cho việc cô chưa mất hẳn chữ trinh. Tuy nghịch dị, nhưng những nhân vật của Vũ Trọng Phụng không phải là hề, bởi vì ngoại hình của họ không có tính duy nhất. Tất cả các nhân vật đều là những điển hình cho một lớp người đểu giả trong xã hội Việt Nam những năm 1930. Ở đây cũng cần nói thêm, mặc dù màn “Hạnh phúc của một tang gia” có đầy đủ các hình thức của carnaval: đám rước giễu hành mang hình ảnh của những con quỷ hoan hỉ (cười cợt trên cái chết của người thân), tiếng cười lộn ngược giả trá trong tiếng khóc, có sự chôn cất hạ huyệt, nhưng về bản chất, “Hạnh phúc một tang gia” đối lập hoàn toàn với cảm quan carnaval. Ở chỗ, cái thế giới giả trá và tàn nhẫn kia chính là thế giới thực, cái đám giễu hành kia là con đẻ của thế giới thực, và khi cái huyệt kia lấp xuống, đó chính là sự tuyên án cái chết đối với đạo đức và nhân tính. Ở đây hoàn toàn không có trạng thái hai thế giới đặc thù của carnaval, và sự chôn xuống không hề có ý nghĩa tái sinh.
Tiêu chí quan trọng hơn, chính là mối quan hệ giữa các nhân vật với các tình huống gây cười. Nhân vật hài khác trong tác phẩm trào phúng bao giờ cũng chịu sự chi phối của tình huống. Phải có sự việc sứ Tàu đến gây loạn và ra thử thách, trạng Quỳnh mới có dịp để châm biếm, mỉa mai, vạch trần bọn sứ Tàu từ đó tạo tiếng cười. Phải có sự việc anh chàng mới cưới và anh chàng mới mua áo gặp nhau, mới có tiếng cười chế giễu thói khoe khoang trong truyện Lợn cưới, áo mới. Ngược lại, nhân vật hề chủ động tạo ra tình huống gây cười, lôi kéo các nhân vật khác vào trò diễn của mình để tạo ra sự hài hước. Beghemot trong Nghệ nhân và Margarita  lôi kéo, trêu chọc các nhân vật khác trong đoàn tùy tùng, giễu cợt, chế nhạo họ để mua vui. Hắn còn chủ động tạo ra sân khấu Hắc ảo thuật (một sự kiện quan trọng trong cốt truyện) để biến một tập thể công dân Moscow thành trò vui. Màn “Đại vũ hội của Chúa quỷ Satan” do Beghemot tổ chức là điểm hội tụ và là cao trào của ba tuyến truyện, có chức năng phân giải, phán xử số phận của các nhân vật trung tâm. Thật ra, nhân vật hề không hoàn toàn thoát ly khỏi tình huống truyện, nhưng sự vận động của hề luôn hướng ra khỏi sự vận động của tình huống, để tạo ra tình huống mới có chức năng gây cười. Forrest Gump cả cuộc đời luôn bị lôi kéo hết từ sự kiện này đến sự kiện khác, và hầu hết đều có tính chất trang trọng: phát biểu nhân giải vô địch đội bóng, nhận huy chương kháng chiến và gặp tổng thống, tham gia cuộc thử nghiệm NASA ra ngoài vũ trụ, vô địch giải cờ vua thế giới… Nhưng sự vận động của nhân vật đều đi lệch khỏi tính chất trang trọng đó, và tạo ra vô số các tình huống gây cười, phá bĩnh, lật mặt các sự việc trang trọng. Là cầu thủ phát biểu trong giải vô địch bóng bầu dục, Forrest Gump chỉ biết nói: “Tôi buồn đái”. Khi gặp tổng thống, được hỏi về vết thương chiến tranh, hắn vạch quần ra cho tổng thống xem, ngay trong chương trình truyền hình trực tiếp được cả nước quan tâm. Qua lăng kính của hắn (ngôi kể chuyện thứ nhất xưng tôi), tất cả các điều trang trọng nhất đều bị phỉ báng, đều là những thứ “cứt đái” vô nghĩa. Như vậy, hề dự phần vào hiện thực cuộc sống như một kẻ phản loạn, hắn lộn trái hiện thực (một cách ý thức hay vô thức) bằng các trò hề của mình, sự tương tác với các nhân vật khác của hề lôi kéo họ vào sân khấu của hắn, biến họ thành người cộng sự, người đồng diễn.
Tiêu chí mối quan hệ với tình huống là tiêu chí chủ yếu để phân biệt hề với nhân vật hài khác, giúp ta giải quyết được nhiều trường hợp tiêu chí ngoại hình không giải quyết được. Đơn cử như trường hợp Belikov trong truyện ngắn Người trong bao của Chekhov. Ngoại hình “trong bao” của Belikov thỏa mãn tiêu chí nghịch dị và đảm bảo tính duy nhất: cặp kính đen to tướng che gần hết khuôn mặt nhợt nhạt, choắt như mặt chồn, chiếc áo bành tô cốt bông bẻ cổ đứng lên, lỗ tai nhét bông, chân đi giày cao su… Tuy vậy, Belikov không phải là nhân vật hề, ở chỗ, hắn hoàn toàn là con đẻ của cái hiện thực mà hắn đang sống. Mọi hành động của hắn đều bị chi phối bởi nỗi sợ hãi các nhà cầm quyền, thể hiện rõ “thói  nô lệ tinh thần” mà Chekhov vẫn phê phán. Tính chất “người trong bao” của Belikov dần bộc lộ qua các tình huống truyện.  Như vậy, trong quan hệ với hiện thực, Belikov ở cùng bình diện với các nhân vật khác trong tác phẩm. Sự nghịch dị của hắn được tạo ra để phóng đại, tô đậm một hiện tượng phổ biến trong xã hội Nga thế kỉ XIX, thói nô lệ tinh thần, qua đó Chekhov trình bày quan điểm về cải cách xã hội và cải cách con người.
TIỂU KẾT
Hề là một hiện tượng văn hóa toàn cầu, có lịch sử lâu dài. Hề có những đặc tính cơ bản: Ngoại hình nghịch dị, không xác định trong không gian và thời gian. Tiếng cười của hề thường gắn với các nội dung: chế nhạo cái thiêng, giễu cợt cái chết, bệnh tật, các tổn hại về thể xác và tinh thần, cười cợt người nước ngoài và những kẻ lạ mặt, các đề tài về tình dục và các yếu tổ dung tục. Cách thức tạo tiếng cười của hề rất đa dạng: giễu nhại, đánh đập, cách sử dụng ngôn ngữ lắt léo, mỉa mai, chơi chữ. Beghemot trong tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita là một anh hề đặc sắc, độc đáo, kế thừa những đặc điểm cơ bản của hề, kết tinh tài năng sáng tạo mạnh  mẽ của Bulgakov. Điều đó luận văn sẽ làm rõ ở các chương sau.



[1] “fool (jester): a man employed in the past at the COURT of a king or queen to amuse people by telling jokes and funny stories”.
[2] Fool, also called Jester,  a comic entertainer whose madness or imbecility, real or pretended, made him a source of amusement and gave him license to abuse and poke fun at even the most exalted of his patrons”.
[3]Trích theo Vicki K Janik, mục 39 tài liệu tham khảo, trang 3.
[4]Dẫn theo: http://tyaratran.blogspot.com/2014/01/nghe-thuat-mat-na-kinh-kich-trung-quoc_8.html
[6]Dẫn theo C. Tood White, “The Anthropology of Fools”, Fools and Jesters in Literature, Art, and History, Greenwood Press, trang 33.
[7]Nguồn: http://websrv1.ctu.edu.vn/coursewares/supham/myhocdc/chuong5.htm
[8]Dẫn theo Tod White, “The Anthropology of Fools”,  Fool and Jester in Liturater, Art and History,  tr.35.
[9]Ban biên tập NXB Trẻ,“Nước chanh và Socôla: Hai cái nhìn về nước Mỹ”, phụ lục Forrest Gump, tr 332.
[10]Nguồn: http://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=8974