Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng

ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ


ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ


Ông già và biển cả ( bản gốc: The Old Man and the Sea) là một tiểu thuyết ngắn được tác gia nổi tiếng của Hoa Kì, Ernest Hemingway, viết ở Cuba năm 1951 và xuất bản năm 1952. Ông già và biển cả thuộc thể loại truyện ngắn viễn tưởng, là tiểu thuyết cuối cùng thuộc thể loại này được viết bởi Hemingway. Đây cũng là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông. Tác phẩm đoạt giải Pulitzer cho tác phảm hư cấu năm 1953, góp phần quan trọng để ông nhận giải Nobel văn học năm 1954.

Ernest Hermingway (1899-1961) sống xuyên qua cả hai cuộc chiến tranh khủng khiếp và tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại, đó là cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) và cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1937-1945). Đây cũng là những dấu mốc quan trọng nhất và tác động sâu sắc nhất đến nhà văn.

“Những cuộc phiêu lưu lớn của Hemingway bắt đầu với cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cũng từ đó Hemingway sáng tác những tác phẩm lớn của mình. Khi ngọn lửa Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng lên, Hemingway không chờ nước Mỹ tham chiến. Ông đã gia nhập đội quân tình nguyện, làm người lái xe cho Hội Chữ thập đỏ, và đến nước Ý. Rồi ông lại xung vào đội lục quân Ý Arditi nổi tiếng. Chiến tranh kết thúc, ông mang trong mình 247 mảnh đạn, hai lần được khen thưởng và được một phụ cấp hằng tháng là năm mươi đô la.

Nhưng cái quý nhất là cuộc chiến đấu đó đã đem lại cho ông và cho nhân loại một trong những tác phẩm hay nhất của ông phản đối chiến tranh...

...Sau hiến tranh thế giới thứ hai, Hemingway không về nước Mỹ mà trở về sống ở Cuba trong trại Finca Vigía trên bờ biển, cách La Habana vài cây số. Ở đây quanh năm ông sống ngoài trời, giữa thiên nhiên, câu cá trên biển cả... Hemingway đã viết một tác phẩm nổi tiếng , “Ông già và biển cả” (The Old Man and the Sea). Đây là câu chuyện một ông lão đánh cá biển khơi đã thức suốt đêm để câu một con cá lớn. Nhưng ông lão trở về chỉ đem theo được một bộ xương cá lớn đã bị cá mập róc hết thịt. Hemingway đã tìm đề tài trong những cảnh sống thực ông đã trải qua. Cuốn tiểu thuyết mang một tình cảm mới, đậm đà, sâu sắc với con người. “Ông già và biển cả” ca ngợi sự chiến thắng của con người đối với con vật và thiên nhiên. Ông nghĩ rằng:”Con người có thể bị hủy diệt chứ không chịu bị khuất phục”. - Phạm Thành Vinh (Xuân 1963).

Hemingway có một phong cách sáng tác rất đặc biệt, tách biệt ra khỏi các nhà văn khác, ông là người tạo ra “nguyên lý tảng băng trôi” (Iceberg Theory), được mô tả bằng sự kiệm lời vả hàm súc. Nói theo nghĩ hình ảnh, nguyên lý của Hemingway giống như một tảng băng trôi, bảy phần tám chìm dưới nước và chỉ có một phần tám nổi lên bề mặt để cho mọi người có thể nhìn thấy. Mỗi người đọc nhìn nhận tác phẩm theo các cấp độ, chiều sâu khác nhau sẽ khám phá được những phần chìm của “tảng băng trôi” khác nhau: đó chính là mạch ngầm của văn bản. Hemingway đã từng nhấn mạnh:Bảy phần chìm dưới nước cho một phần nhìn thấy. Phần chìm là nền tảng đem lại sức mạnh và sự hùng vĩ cho phần đỉnh mà người ta thấy. Bạn càng biết nhiều bao nhiêu, phần chìm càng lớn bấy nhiêu, tảng băng của bạn càng hùng vĩ bấy nhiêu”.

“Ông già và biển cả” là một nhan đề tuy ngắn gọn nhưng súc tích, bao quát hết nội dung của tác phẩm: chuyến đi biển dài ba ngày ba đêm của ông lão Santiago. Với mong ước mong manh rằng: lần đi biển này, ông lão sẽ bắt được một con cá to. Và với niềm tin và sự kiên nhẫn suốt tám mươi tư ngày rong ruổi trên biển mà không có kết quả, mong ước của ông lão đã gặp được vận may và dần trở thành hiện thực: một con cá kiếm đã cắn câu. Ông già và biển cả là một nhan đề có sức gợi tả sâu xa, dường như bật lên khát vọng chinh phục ước mơ trong cuộc đời rộng lớn. Trước bể khổ cuộc đời, con người ta đơn độc, già yếu, bệnh tật nhưng phải gắng gượng trước gió bão và nguy hiểm chực chờ để khẳng định vị thế của bản thân trước xã hội. Không những vậy, nhan đề tác phẩm còn là sự chống đối quyết liệt, một bên là ông già hiền lành, nhỏ bé, cô độc; một bên là biển cả dữ dội, bao la và luôn tìm tàng nguy hiểm chực cuốn lấy người đi biển. Con người quá nhỏ bé trong khi biển cả lại quá rộng lớn. Nhưng, Hemingway lại thẳng tay so sánh “ông già” và “biển cả”, ý muốn nói con người ngang hàng với tự nhiên. Khẳng định niềm tin bất diệt của nhà văn đối với sức mạnh và ý chí của con người luôn trong tâm thế sẵng sàng đối mặt với cuộc đời đầy những khó khăn, nhiều biến động.

Tác phẩm xoay quanh nhân vật Santiago, một ông lão đánh cá bảy mươi bốn tuổi, suốt tám mươi tư ngày liền không bắt được một mống cá nào, mọi người cho rằng ông đã không còn nắm giữ được vận may, ngay cả người bạn, người thân duy nhất là cậu bé Manolin cũng bị cha mẹ cấm không cho đi câu cùng ông nữa. Vào ngày thứ tám mươi lăm, ông lão quyết định ra khơi, Lần này ông quyết định đi thật xa đất liền để đi tìm con cá to của mình. Đến trưa, một con cá kiếm lớn cắn câu, kéo thuyền đi về hướng Tây Bắc. Đến hôm sau con cá nhảy lên, lần đầu tiên ông lão chạm trán con cá và cũng là lần đầu tiên ông thấy một con cá kiếm lớn nhất mà ông từng nhìn thấy, lớn hơn tất cả mọi con cá từng được đưa vào cảng La Havana. Sang đến ngày thứ ba, con cá không ăn không ngủ cùng với hơn mười hai lần nhảy lên khỏi mặt nước, không khí vào những chiếc túi dọc lưng đã làm nó kiệt sức, con cá bơi về hướng Đông, theo chiều dòng nước, và bắt đầu lượn vòng. Dù không còn nhiều sức lực nhưng ông lão vẫn cố gắng thu ngắn dây câu và dốc toàn lực phóng mũi lao đâm vào lồng ngực xuyên qua tim giết chết con cá. Nhưng bầy cá mập đã đánh hơi được mùi máu và tìm đến con cá kiếm. Từ khoảng khắc con cá mập đầu tiên suất hiện, ông lão đã chống chọi trong tuyệt vọng với sức tàn của mình để bảo vệ từng miếng thịt cá, nhưng ông lão biết con cá kiếm không còn gì ngoài bộ xương dù cho ông có phóng lao, vung chày…và thậm chí giết được rất nhiều con cá mập. Đến khuya, ông lão đã trở về Terrace, một cách mệt mỏi và kiệt sức ông ngã vật xuống giường và rồi lại mơ về những con sư tử…

Tôi đã từng đọc qua một đoạn nhận xét về nhân vật của Ernest Hemingway: “Nhân vật của Hemingway không bao giờ chịu buông xuôi, không bao giờ chịu khất phục. Dù đã rơi vào cảnh ngộ sức tàn lực kiệt đến đâu chăng nữa, nhưng hễ còn sống, họ phải dốc toàn lực ra mà chiến đấu để có thể tồn tại đúng nghĩa một con người. Họ sống để khẳng định một điều, ngay cả lúc cùng cực nhất của số phận, con người vẫn luôn biết ngẩng cao đầu, kiên trì chịu đựng, chiến đấu để vượt qua. Và đây là ý nghĩa sống tích cực nhất cho mọi lẽ sống: Con người có thể bị hủy diệt chứ không chịu khuất phục”. Ý nghĩa sống này được đúc kết từ nhân vật Santiago, một người lao động lành nghề, có thiên lương cao đẹp, và khát vọng lớn lao chinh phục ước mơ. Khi cậu bé Manolin hỏi: ”Ông sẽ đến đâu?”, Ông lão đã trả lời cậu bé rằng: ”Đi thật xa, khi gió trở thì mới quay về…”. Hemingway luôn đặt nhân vật của mình đơn độc trước thử thách từ đó để họ phô bày vẻ đẹp của bản thân, vượt qua giới hạn của mình. Cũng từ đó mà sức mạnh của ý chí, nghị lực được tìm thấy nơi ông lão Santiago như tìm thấy vật báu tìm tàng.

 Rõ rành rành đây là một cuộc chiến hoàn toàn bất lợi cho ông lão, ông “gầy gò, giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn. Những vệt nám vô hại trên làn da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời phản hồi trên mặt biển nhiệt đới. Những vệt ấy kéo dài xuống cả hai bên má, tay lão hằn những vết sẹo sâu bởi kéo những con cá lớn…”. Không chỉ tuổi già mà còn những thương thế trong cuộc chiến với con cá; bị chuột rút một tay, đau lưng do sợi dây câu xiết vào khi con cá kiếm kéo đi... “Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên vẻ già nua, trừ đôi mắt; chúng có cùng màu với nước biển, vui vẻ và không hề thất bại”. Đôi mắt phản ánh chân thực tâm hồn của ông lão, một tâm hồn trái ngược hoàn toàn với cái cơ thể già nua kia, nó điềm tĩnh, vui vẻ và hãy còn rất trẻ vì một người có tâm hồn già cỗi sẽ không bao giờ còn có thể theo đổi ước mơ của mình nữa. Còn hơn thế nữa khi một con người nhỏ bé ấy lại cả gan thách thức thế lực tự nhiên: “Mày cảm thấy thế nào hở cá? – lão hỏi lớn. – Còn tao thì thấy khỏe, bàn tay trái cũng đã khá hơn. Tao có đủ thức ăn cho một đêm, một ngày nữa. Có giỏi thì cứ kéo thuyền đi, cá”. Tất cả được bộc lộ qua trận chiến với con cá, “Mình khuất phục được nó, lão nghĩ. Có lẽ lần này mình sẽ cho nó đi đứt. Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục. Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày chưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ khử nó”. Khi sức khỏe đang dần kiệt quệ, Santiago đã chiến đấu bằng tất cả còn lại: kinh nghiệm già dặn và ý chí vững vàng. Tuy đôi khi kinh nghiệm của ông thể hiện qua cảm nhận nhưng nó lại luôn luôn chính xác đến mức hoàn hảo. Santiago biết khi nào con cá đã thấm mệt, khi nào nó xoay vòng, và dù không thấy được qua dòng nước nhưng ông biết “lưỡi kiếm của con cá đang quật vào đoạn dây thép đáy”… Santiago đã xử lý tình thế không một chút sai sót trước mọi động thái của con cá. Từ những kinh nghiệm được đút kết đã làm cho tay nghề của ông lão trở nên siêu việt.

Mục đích của ông lão không phải để bắt được con cá nhiều cân, chắc thịt mà vì một điều cao cả hơn: thực hiện được ước mơ chinh phục của mình. Không chỉ vậy, ông còn xem con cá là một người anh em, ca ngợi sự hùng dũng của con cá.

 Hình ảnh con cá được khắc họa như một bản thể khác của ông lão Santiago vậy. Qua mối quan hệ của Santiago và con cá kiếm, nhân vật của Hemingway chỉ tìm được sự đồng cảm, tri âm khi quay trở về với thiên nhiên. Sức mạnh để chiến thắng con cá của Santiago không phải là một dạng sức mạnh tràn trề sung mãng, mà sức mạnh của ông lão bắt nguồn từ tất cả những gì còn lại, còn tỉnh táo, bắt nguồn từ những đau đớn khắp cơ thể: “Cố nén cơn đau, dồn hết tàn lực, dốc hết lòng kiêu hãnh còn lại, lão mang ra đương đầu với nỗi đớn đau vô bờ của con cá…”. Đó chính là giá trị đích thực của con người trên cuộc hành trình khẳng định bản thân: vượt qua nỗi đau của chính mình và sẵng sàng trả giá cho nỗi đau ấy để có được thành quả. Ông lão Santiago còn là một con người nhân hậu, ông rất yêu đại dương: “Lão yêu giống rùa xanh, lưng khòm, duyên dáng, nhanh nhẹn và giá trị lớn của chúng; lão có tình cảm suồng sã theo kiểu bạn bè vói cái giống to đầu, nặng nề, đần đần, da vàng phía trong mai, giao cấu theo kiểu kì quặc và hồ hởi chén thị sứa với đôi mắt nhắm tịt ấy.”, “Thỉnh thoảng những người yêu biển cũng buông lời nguyền rủa biển như thể biển là phụ nữ”,… Tình yêu dành cho biển của ông lão Santiago gần gũi và thân thuộc, gắn liền với quá khứ và cảm nhận chân thực về từng sinh vật trên biển cả.

Về phần con cá, nó toát lên vẻ đẹp dũng mãnh, hiên ngang như một vị tướng; nó toàn diện, hoàn mỹ trên mọi phương diện từ ngoại hình đến phẩm cách. Mang tướng mạo oai hùng, bệ vệ; con cá trở thành ước mơ vĩ đại, “Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm. Nó lại lặn xuống và khi con cá hãy còn mấp mé mặt nước, ông lão có thể nhìn thấy thân hình đồ sộ và những sọc tím sẫm trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to lớn bên sườn đang xòe rộng”. Qua lời nhận xét của ông lão về con cá, vẻ đẹp nhân phẩm hiện trong một con cá kiếm mà ngay cả với con người ít ai có được, “Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ”. Qua con cá kiếm đẹp đẽ, oai vệ đó, tôi lại có câu hỏi về con người, hiện nay giống loài chúng ta chi phối toàn cần, nhưng liệu chúng ta xứng đáng với thiên nhiên? Loài người đã không còn tiến hóa từ rất lâu, trong khi đó sinh vật vẫn cứ tiếp tục sinh sôi nảy nởi, thậm chí nhiều loài còn tiến hóa dù cho con người là nguyên nhân cho các loài khác tuyệt chủng, vậy con người có lạc hậu so với tự nhiên? Và dựa trên những phẩm chất và đức tính của con cá kiếm, con người có đang dần dần từng bước tự tha hóa bản thân mình, có còn là giống loài cao quý nữa không? Xã hội càng phát triển, tuy không thể phủ định lại những sự tiến bộ của con người, nhưng sự tiến bộ này hầu như chỉ thể hiện ở một khía cạnh vật chất. Còn đạo đức, nhân phẩm của con người lại dần bị xem nhẹ đi mà thay vào đó là lợi ích cá nhân được đặt lên trên hết. Con người không còn nghĩ cho nhau, sống vì nhau như trước đây nữa, không còn “tối lửa tắt đèn” mà trở thành “đèn nhà ai nấy rạng”. Với một sự thật rằng khi mà “trí óc” của con người ngày càng lớn mạnh, “trái tim” chúng ta sẽ càng trở nên nhỏ bé hơn. Loài người là một sinh vật sở hữu một trí tuệ siêu việt và một trái tim cao thượng nhưng đáng tiếc thay không nhiều người có khả năng sở hữu được cùng một lúc cả hai thứ “kho báu” đó. Ông lão Santiago xem con cá kiếm như một người anh em, xem biển là nhà vì ông, nói thẳng ra không còn một ai là tri âm tri kỉ cùng giống loài nữa. Cho dù khao khát muốn có được một người tri âm với mình để cùng nhau vượt qua khó khăn. Tuy luôn nghĩ về cậu bé Manolin suốt cuộc hành trình dài lênh đênh trên biển và luôn muốn cậu bé ở bên để giúp đỡ mình, nhưng cuối cùng chỉ có duy nhất bản thân ông lão là tự thân vượt qua khó khăn, đương đầu với thế lực tự nhiên. Cuộc sống loài người với các giá trị bị đảo lộn, với phần nhân phẩm của Santiago chỉ có thể tìm được tri âm nơi biển khơi vô tận. Chỉ khi được trở về với thiên nhiên, ông lão mới tìm được một góc lắng đọng, phần dịu dàng đồng cảm trong tâm hồn của cơ thể già nua kia.

Ông lão không dựa vào bất cứ ai hay bất kì điều gì mà duy chỉ có tự thân ông vượt qua mọi trắc trở, nghịch cảnh. Cũng giống như tất cả nhân vật của Hemingway, không dựa vào Chúa, họ dựa vào chính bản thân mình. Họ không phải là những con chiêng ngoan đạo, cũng không tin vào các thế lực tâm linh siêu thực, họ là chính họ, họ chỉ tin vào sức mạnh, ý chí của bản thân mình mà chinh phục vinh quang. Với ông lão Santiago, đức tin giống như là một món ăn, có thể ăn và cũng có thể không. Cho dù đến khi cùng kiệt nhất, đến khi thể xác cần có “món ăn tinh thần” đó để tìm cho mình một chỗ dựa thì ông lão vẫn không lựa chọn dựa vào nó để mà tiếp tục chiến đấu. Con người muốn thành công phải tự tay làm mọi việc của mình. Cho nên việc ông lão Santiago hứa đọc kinh cũng chỉ là một “phản xạ văn hóa” nhất thời. Với lối suy nghĩ tin tưởng vào bản thân của mình, ông lão chỉ xem đức tin là một điều giúp mình giảm tỏa bớt phần nào sự căng thẳng trong khi mải chiến đấu với ước mơ của mình: “Ta không thể lả người chết vì một con cá như thế này được, - lão nói - Bây giờ là lúc ta đưa nó lên một cách thật hoàn hảo, Chúa giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần bài kinh Lạy Cha và một trăm lần bài kinh Mừng Đức Mẹ. Nhưng lúc này thì ta chưa thể. Cứ xem như mình đã hứa. Mình sẽ đọc sau vậy”. Qua lời nói nhìn thấy được khía cạnh hài hước của một ông lão khắc khổ, một phần tảng băng trôi dần lộ lên trên mặt biển. Như một điều hiển nhiên khi con người đến ngưỡng chịu đựng của thể xác và tinh thần, họ sẽ tìm đến những thế lực không thể lý giải được. Con người cũng cần có một niềm tin để gắn kết với thế giới tâm linh nhưng không phải lạm dụng nó như một phương thuốc chữa bách bệnh và vượt qua mọi khổ đau. Để thực hiện được ước mơ của mình con người phải tự dựa trên chính mình, chính khả năng của mình vì chỉ có chúng ta mới quyết định cuộc đời của bản thân và chỉ có sự quyết tâm đến cùng mới quyết định thành bại. Cựu Tổng thống Hoa Kì Thomas Jefferson từng nói: “Không gì có thể ngăn cản một người với sự quyết tâm cao độ đạt được giấc mơ của họ; không gì trên thế giới này có thể giúp được một người không có sự quyết tâm”. Con người phải biết đứng lên chiến đấu vì bản thân, chiến đấu cho ước mơ của mình. Santiago tự đặt ra mục đích và tự chọn cho mình cách sống. Khi mà ước mơ đã cận kề với ông lão hơn bao giờ hết, con cá kiếm sắp bị chinh phục, không còn thế lực nào có thể ngăn cản ông lão ngoại trừ chính bản thân lão. Vì trong cuộc chiến này, ông lão phải chinh phục đồng thời cả hai đối tượng là con cá và bản thân ông. Và phần thưởng cao nhất là chiến thắng chính mình, con cá kiếm chỉ là món phần thưởng đi kèm, vì phần thưởng lớn nhất luôn xuất phát từ tâm hồn.

Chiến thắng của ông lão không tạo nên từ cái tôi mà từ mọi nỗi lực vượt qua đau đớn thể xác và tin thần. Không chỉ vậy, nó còn là một tấm gương phản chiếu một thời huy hoàng khi ông còn trẻ, tất cả mọi sự tốt xấu trong suốt cuộc đời người ngư dân già hiện về để chứng kiến ước mơ được chinh phục. “Cố nén cơn đau, dồn hết tàn lực, dốc hết lòng kiêu hãnh còn lại, lão mang ra đương đầu với nỗi đớn đau vô bờ của con cá”. Cơn đau, tàn lực của hiện tại được đặt ngang hàng với lòng kiêu hãnh của quá khứ. Sức mạnh mà Santago có được để chiến đấu với con cá không phải là thứ sức mạnh tràn trề nhựa sống của tuổi trẻ mà là chút tàn lực còn lại cùng với tuổi già và đôi tay bị thương, đôi mắt bị mờ, đầu óc bị choáng... Nhưng đến cuối cùng ông lão vẫn là người chiến thắng. Đó là giá trị cao quý tiềm ẩn trên hành trình khẳng định sự sống mà con người có được. Càng đến gần đoạn cuối cuộc hành trình, sự kiên trì của con người lại trở thành vật cản cho những bước tiến cuối cùng. Một khi con người ở trạng thái kiệt sức nhất, nản lòng nhất cũng chính là khi họ tiến gần đích đến nhất. Hầu như mọi người đều muốn bỏ cuộc khi sắp thành công. Vì không có quyết tâm mà đến cuối cùng con người chỉ còn lại bản thân với sự thất bại ê chề trên con đường ước mơ chẳng bao giờ có thể hoàn thành. Nói cách khác, ước mơ như một đường chạy, chỉ những vận động viên thực sự hiểu được ý nghĩa của việc chạy là về đích mới có thể hoàn thành được nó. Còn với những người dễ dãi với bản thân, dễ dàng chấp nhận thất bại sẽ không bao giờ có thể tiến về phía trước mà ngày càng tụt lại với mọi người để rồi trở thành hạt muối hòa trong đại dương rộng lớn. Con người sống là để chinh phục những ước mơ chứ không phải để chết trong quên lãng.

Để hoàn thành ước mơ, phải luôn hành động. Santiago; một người nhìn thấy bình minh trong bóng tối, người có thể nghe được sự sợ hãi của đàn cá chuồn tung mình khỏi mặt nước; là người chủ động điều khiển con cá kiếm, luôn luôn hành động, vì hành động là con người ông. Đối với Santiago sự vận động là dấu hiệu của sự sống, không hành động cùng nghĩa với chết. Ông lão không muốn chết, ít nhất là khi chưa chinh phục được ước mơ của mình. Bởi thế mà Santiago luôn ở trong thế chủ động, từ suy nghĩ đến từng cử chỉ; ngay cả khi cánh tay trái của ông không cử động được do chuột rút, nó vẫn phải giữ sợi dây câu lúc ông lão ngủ.

Nhưng dù con người có muốn quyết định cuộc sống bản thân thì nó cũng vẫn nằm trong một vòng lặp, chịu sự chi phối của nó, vòng lặp của số phận. Cuộc hành trình lênh đênh trên biển của ông lão Santiago là một ẩn dụ cho vòng tuần hoàn của số phận, con người là một quân cờ trong trò chơi may rủi của số phận. Sự may rủi chỉ cách nhau gan tấc mà không ai có thể sở hữu hay hiểu biết về nguyên lý của nó. Tuy vậy, với Hemingway lại khác, ông khắc họa hình tượng nhân vật của mình đầy nghị lực sống, ý chí mạnh mẽ và tài năng để đương đầu với vòng lặp ấy. Hành trình sống của họ là những điều may rủi phải vượt qua để đến ước mơ. Tuy rằng mọi phấn đấu rồi cũng không còn ý nghĩa nữa, khi chúng ta chết đi. Nhưng nhân vật của Hemingway chưa bao giờ và không bao giờ chịu khuất phục. Họ vẫn luôn kiên trì “chịu đựng như một con người” dù hoàn cảnh có khốn khổ thế nào đi chăng nữa. Ý nghĩa sống đầy triết lý nhân sinh quan, “Con người có thể bị hủy diệt chứ không chịu khuất phục”. Như trước khi ước mơ bị đoạt mất, Santiago vẫn chiến đấu đến cùng để bảo vệ con cá kiếm cho dù ông biết rằng không thể nhưng ông vẫn cứ làm, tất cả những gì có thể vượt qua khả năng mà một ông già kiệt quệ sức lực có thể làm được. Nhân vật của Hemingway luôn phải đối chọi với những thế lực siêu nhiên, hư vô, vượt khỏi tầm với của con người. Nhưng, mục tiêu của họ là chứng minh bản thân, thông qua việc chiến đấu với những thế lực siêu thực đó. Dẫu biết rằng không ai có thể chiến thắng thứ mà ngay cả bản thân mình còn không biết, không phải vì cái tôi ngông nghênh cao hơn số mệnh, cao hơn tự nhiên; họ vẫn tiếp tục chiến đấu đến cùng với lý do đơn thuần rằng họ không chịu buông xuôi.

Ngoài những tảng băng trôi ngôn từ, những tảng băng còn hiện lên qua những hình ảnh đặc sắc.

Trong ”Ông già và biển cả”, ngoài những khung cảnh đại dương, thủy sinh; ta còn bắt gặp hình ảnh của đàn sư tử trên bờ biển trong giấc mơ của ông lão Santiago. Sẽ chẳng có gì khác biệt với những hình ảnh khác nếu như giấc mơ của ông lão không xuất hiện đến ba lần trong tác phẩm và thay vì mơ về các loài sinh vật sống dưới nước mà ông lão yêu quý như rùa biển, cá chuồn hoặc mơ về Manolin, người bạn con người duy nhất của ông, mà là giấc mơ “…về các vùng đất, về những con sư tử trên bờ biển. Chúng nô đùa như những chú mèo con trong hoàng hôn; lão yêu chúng như yêu thằng bé”. Vì cuộc đời con người khi về già, khi mà đã trải qua bao nhiêu vui thú của tuổi trẻ rồi để ngậm ngùi trong nỗi cô đơn lúc xế chiều, con người thường sẽ hoài niệm về những năm tháng tươi đẹp đó; ông lão cũng vậy, ông mơ về thời trai trẻ huy hoàng của mình, ông đi đến mọi nơi, học hỏi nhiều điều và ông yêu những kỉ niệm quá khứ vui vẻ đó cũng như yêu thương cậu bé Manolin, niềm vui trong hiện tại của ông. Con người trong bất kì khoảng khắc nào nếu luôn luyến tiếc những cảm xúc dù nhẹ nhàng nhưng đôi khi cũng rất đỗi sâu sắc đều là những người có tâm hồn tinh tế và nhạy cảm trước sự thay đổi của không thời gian, đặc biệt là những người từng trải. Những con sư tử chỉ xuất hiện ở bờ biển vì Santiago yêu biển, như yêu người vợ đã khuất của mình, và vì ông gắn liền với biển, với tình yêu của ông lão dành cho biển cả.

Lần thứ hai, đàn sư tử xuất hiện khi Santiago ngủ trên thuyền sau một ngày nhọc nhằn với con cá kiếm và ông lão cần nghỉ ngơi. “Mình mong nó ngủ và mình có thể ngủ và mình có thể mơ về những con sư tử, lão nghĩ”. Hình ảnh đàn sư tử xuất hiện trong hoàn cảnh khó khăn giữa cuộc chiến của con người đối đầu với thiên nhiên. Sư tử là hình tượng chúa tể của muôn thú, nó biểu tượng cho sức  mạnh – điều mà ông lão mong muốn nhất bấy giờ. Và nó cũng là ông lão, cho dù  đối thủ có mạnh mẽ và to lớn đến đâu chăng nữa thì cũng sẽ khuất phục trước vị chúa tể. Điển hình là con cá kiếm, nó mạnh mẽ, oai vệ cùng với những đức tính cao đẹp cuối cùng cũng thua trận trước một ông lão nhỏ bé.

Sau thất bại, Santiago trở về “trong căn lều, ông lão lại ngủ. Lão vẫn nằm úp mặt ngủ, thằng bé ngồi bên cạnh nhìn lão. Ông lão đang mơ về những con sư tử”. Đến lần xuất hiện thứ ba, ý nghĩa thực sự của những con sư tử một cách rõ nét hiện ra, chính là ước mơ. Trước khi ông lão bắt đầu cuộc hành trình xuyên suốt ba ngày đêm, ông mơ về những con sư tử - ước mơ bắt được con cá lớn - rồi khi đang trên con đường thực hiện với ước mơ của mình, hình ảnh đàn sư tử lại hiện ra. Nhưng lần này ông lão không mơ mà là muốn mơ về đàn sư tử - ông muốn bắt con cá kiếm. Khát vọng thực hiện ước mơ của bản thân hiện lên rõ rệt như một khát vọng sinh lý. Ý nghĩa sâu sắc về quyết tâm dám ước mơ và dám thực hiện cho dù có vấp ngã vẫn luôn kiên trì theo đuổi ước mơ. Đó là lý do vì sao ông lão vẫn tiếp tục mơ về đàn sư tử, ông có một khát vọng to lớn để đứng lên sau thất bại.

Một khái niệm khác liên quan đến ước mơ, đó chính là bản chất thật của ước mơ. Đôi khi con người ta lý tưởng hóa ước mơ của mình rồi sau khi thực hiện được nó, ước mơ lại không “đẹp” như chúng ta vẫn hằng mộng tưởng. Trước khi giết con cá, nó là hình mẫu của tất cả mọi thứ, sinh động trong làn nước, một con cá hoàn thiện hoàn mỹ. Nhưng khi con cá kiếm chết, ước mơ trở nên trần trụi đến khó tin, nó không còn đẹp đẽ và hoàn hảo nữa, “Da cá chuyển từ màu gốc, tím sẫm ánh bạc, sang màu trắng bạc và những cái sọc cũng có cùng màu tím nhạt như đuôi nó. Những đường sọc ấy lớn hơn cả bàn tay người xòe rộng, còn mắt nó trông đờ đẫn như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như mắt một vị Thánh trong đám nước”. Con cá trước khi chết linh hoạt biết bao, bây giờ chỉ còn lại một khối thịt cứng đờ. Cái hào nhoáng của ước mơ đôi khi lại che khuất đi bản chất thật của nó.

Trong khi các hình ảnh khác đều xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, có một hình ảnh chỉ xuất hiện ở cuối tác phẩm nhưng lại lột trần sự thật đáng buồn về con người và về thời đại, hình ảnh đàn cá mập. Con cá mập đầu tiên “không phải là tình cờ. Nó ngoi lên từ phía biển sâu khi đám mây máu đen sẫm được hình thành rồi lan nhanh xuống vùng nước sâu hơn ngàn thước. Nó bơi đến rất nhanh và hoàn toàn bất cẩn đến mức đã xé tung mặt nước xanh thẳm, nhao mình trong ánh nắng. Thoáng chốc, nó rơi thẳng xuống biển, bắt mùi bơi theo chiếc thuyền và con cá”. Con cá mập, hình ảnh ẩn dụ cho không ai khác chính là tầng lớp tư sản, nói cách khác là những kẻ có địa vị và quyền lực trong mọi thời đại. Chỉ cần nghe “mùi” của của phúc lợi dù chỉ thoảng qua là ngay lập tức bóc lột cho bằng được. Những người như Santiago, những người không địa vị hay tiền tài bao năm tháng ấp ủ một ước mơ, khổ cực nhọc nhằng để thực hiện cuối cùng lại tay trắng vào cái “bao tử” của những kẻ ngồi chiếu trên. Dù cho có những người như Santiago, họ chống trả quyết liệt để bảo vệ thành quả lao động của mình, nhưng cuối cùng chỉ là kháng cự trong tuyệt vọng. Ông lão Santiago đã chiến đấu với lũ cá dữ kia, giết rất nhiều con và chỉ hi vọng còn giữ lại được một ít thịt. Nhưng cuối cùng thứ còn lại là bộ xương cá. Cho dù có bị trừng trị kẻ này thì kẻ khác lại lên thay, nối tiếp nhau mà bóc lột một cách tàn nhẫn, không còn chừa lại một tí gì cả. Rồi những con người lương thiện đó chỉ biết đứng nhìn thành quả bao năm ra đi thoáng chốc trong tuyệt vọng và bất lực. Cho dù trong thời đại nào đi nữa, luôn có những thành phần cướp bóc giữa ban ngày. Lấy đi tất cả, từ vật chất đến niềm tin, trả lại cho những người hiền lành thấp cổ bé họng con số không.

Nhưng điều đáng sợ nhất là lớp bình phong cao quý che khuất tầm mắt mọi người của những kẻ này. “Chiều hôm ấy có đoàn du khách ở Terrace nhìn xuống khoảng nước ngổn ngang lon bia rỗng và xác cá nhồng, một người phụ nữ trông thấy bộ xương sống dài, trắng phau, cực lớn với chiếc đuôi đồ sộ dính đằng cuối dập dềnh, đung đưa theo làn sóng trong lúc gió Đông thổi trên vùng biển cồn sóng không ngớt phía ngoài cửa cảng.

-         Cái gì kia? – bà ta hỏi anh bồi và đưa tay chỉ chiếc xương sống dài của con cá khổng lồ, bây giờ chỉ là đồ rác thải đang đợi thủy triều cuốn đi.

-         Tiburon, - anh bồi đáp. – Cá mập ấy mà. – Anh ta hàm ý giải thích chuyện gì đã xảy ra.

-         Tôi không ngờ cá mập lại đẹp như thế, dáng đuôi thật duyên dáng”.

Những kẻ luôn cố thể hiện mình là người đẹp đẽ nhất, cao thượng nhất thực chất lại là những kẻ xấu xí nhất, đớn hèn nhất. Khoác lên mình bộ áo của những bậc quý nhân nhưng vẫn không thể thay đổi được bản chất xấu xa, tham lam kia. Nhưng nhiều thiên niên kỉ trôi qua, bản chất này vẫn không bao giờ thay đổi, cái ác vẫn là cái ác, vẫn hiện hữu và ngự trị trên hết thảy. Chỉ thay đổi ở hình thức bộc lộ ra bên ngoài ngày càng tinh vi hơn và thâm độc hơn. Cái xấu không được bài trừ bởi vì cái xấu luôn ở vị thế cao nhất.

Tất cả những hình ảnh đàn cá mập đều góp phần lên án những bất công trong thời đại mà những con người như ông lão Santiago phải chịu đựng.

“Ông già và biển cả” là một tác phẩm kinh điển, mang nhiều ý nghĩa lẫn chiều sâu. Càng đọc, càng hiểu biết lại càng thấm thía hơn những triết lý và mở mang tầm hiểu biết để hòa vào một phần tri thức vô tận của vũ trụ. Tác phẩm xuất sắc từ nội dung đến nghệ thuật. Với văn phong giàu hình ảnh, ngắn ngọn hàm súc; Ernest Hemingway đã sáng tác ra một tuyệt tác mang đầy ý nghĩa cuộc sống, thế giới quan mới mẻ, xây dựng hình tượng con người với nhiều khía cạnh với nhiều điểm nhìn khác nhau. Từ đó thấy được con người là một giống loài đặc biệt với khả năng vô hạn. Con người xứng đáng với thiên nhiên.

Nguyễn Kha - 2/2017

[NHẬT KÝ VĂN HỌC] CHUÔNG NGUYỆN HỒN AI





TP.H Chí Minh, ngày 20 tháng 01 năm 2018,

“…Cái chết ca bt c con người nào s làm chính tôi bé đi, vì tôi là mt th thng nht vi toàn nhân loi; do đó anh đừng bao gi hi chuông nguyn hn ai, chuông nguyn hn anh đấy.”
_ John Donne

Có những quyển sách không mang đến sự lôi cuốn bằng ngôn từ hoa mĩ hay lối dẫn truyện cuốn hút người đọc nhưng đến khi đóng trang sách cuối cùng, mở ra cho chúng ta là một thứ xúc cảm mang tên không thể thở nổi. Cái cảm xúc “khó thở” khi lần đầu tôi biết thế nào là chiến tranh thực sự, là sự tàn khốc mà nó đem lại, là ngày cuối cùng của cuộc đời, là khi một con người ngã xuống đồng nghĩa bao mộng ước của họ cũng như sợi chỉ sinh mạng mỏng manh một khi đã đứt không thể nối lại được nữa. Cái chết của anh, Robert Jordan, dẫu biết là một cái chết không có thật bởi chính anh cũng là giả tưởng nhưng lại bóp nghẹn trái tim tôi, cảm giác như phần tâm hồn còn lại của tôi đang khóc thương cho một mảnh tâm hồn đã chết theo anh.

“Chuông nguyện hồn ai” thật sự là một tác phẩm khó đọc nếu như không nói là khô khan, nhưng lại không hề nhạt nhẽo. Mà ngược lại, nó lôi cuốn tôi bằng thứ ngôn ngữ chắc gọn, xúc tích đặc trưng của Ernest Hemingway. Thời gian của tác phẩm kéo dài chỉ hơn 3 ngày, chỉ trong khoảng thời gian ít ỏi cuối cùng của cuộc đời người lính trẻ đã trải dài trong hơn 500 trang giấy. Từ đó tôi nhận ra một điều quan trọng: “Cuộc đời dù ngắn ngủi nhưng nếu chúng ta sống hết mình thì nó vẫn quý giá hơn sống một cuộc sống dài đằng đẵng mà tẻ nhạt, vô vị”. Tôi nghĩ Jordan cũng đồng ý với suy nghĩ của mình, bởi lẽ chính anh cũng đã sống, yêu, và chiến đấu hết mình trong những ngày còn lại của cuộc đời.

Khi đọc tác phẩm, tôi nhiều lần không khỏi rùng mình vì những hình ảnh trần trụi thực tế và đầy bi kịch của chiến tranh. Chiến tranh trong thời bình không hơn những câu chuyện được kể lại. Nhưng sức ảnh hưởng của nó, nói giảm đi là ác mộng, vì ít ra ác mộng không có thực. Chiến tranh trong “Chuông nguyện hồn ai” tàn khốc và ám ảnh chứ không phải lúc nào cũng bi tráng hào hùng. Những câu chửi rủa dung tục, những tên sĩ quan quan liêu không phải chiến đấu, những chiếc máy bay, xe tăng và đạn dược tối tân,… và kết quả là những con người bị bắn, bị giết, bị chặt đầu. Nhưng tất cả những hậu quả mà con người phải gánh chịu lại do chính con người gây ra. Con người là sinh vật luôn làm tổn thương lẫn nhau. Xung đột chỉ có thể giải quyết bằng đấu tranh, xung đột càng lớn, đấu tranh sẽ trở thành chiến tranh. Mà chiến tranh từ trước đến nay đã luôn là tội ác, một chân lý không thể chối cải. Ernest Hemingway đã phản ánh thành công bộ mặt trần trụi tàn khốc của “nó”. Biến ông lão Anselmo vốn ghê tởm việc giết người phải cầm súng. Khiến Pablo phải “bội thực” vì máu của những kẻ hắn đã giết để dần dà bị nhu nhược hóa mà trở thành con sâu nát rượu trong đầu chỉ có những con ngựa của hắn. Để lại cho một cô gái ngây thơ như Maria những kí ức và nỗi đau đớn tột cùng vào cái ngày cha mẹ cô bị giết và chính cô đã trở thành “miếng mồi” cho “những con linh cẩu đói khát”… Như một sự thật hiển nhiên mà ta phải chấp nhận, có chiến tranh ắt sẽ có đổ máu, nhưng tự ý tước đoạt sinh mạng của người khác, căm ghét và xả súng vào một người mà chính mình còn không biết tên phải chăng là điều đúng đắn? Sẵn sàng giết chết ai đó vì lý tưởng độc đoán của bản thân là cao đẹp? Liệu ai có đủ đức hạnh và bao dung, liệu vị Đấng toàn năng nào sẽ dung thứ cho những kẻ đó?

Cái Chết là một thứ đáng sợ, trong chiến tranh, con người phải chuẩn bị tin thần để chết, “ngày mai” là tương lai xa. Nhưng khi Ernest Hemingway đặt nhân vật của mình vào nghịch cảnh, họ lại hiện lên với vẻ đẹp rất riêng của mỗi người. Đối với ông lão Anselmo, ông “phản đối mọi sự giết người”, dù cho có là kẻ thù đi nữa, ông xem việc giết người là tội lỗi. Maria dù trải qua nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần vẫn luôn là cô gái mộng mơ, lạc quan, dũng cảm yêu đương. Pablo, tôi không hẳng gọi đây là vẻ đẹp nhưng ban đầu hắn là nhân vật dược xây dựng với hình tượng một kẻ nguy hiểm đáng khinh ghét có thể phá hỏng kế hoạch với sự nhu nhược và hèn nhát nhưng lại là người có tin thần chiến đấu gai góc khi cầm súng. Càng đọc về sau tác phẩm, Pablo lại trở về chính con người và chính con đường là “một chỉ huy du kích giỏi” trước kia, một con người khó hiểu. Đôi khi sự khó hiểu của con người lại có sự thu hút đầy bí ẩn đến kì lạ. Dẫu vậy, khi Cái Chết đến gõ cửa nhà bạn, nỗi sợ hãi từ giã cuộc sống luôn là cảm xúc mãnh liệt nhất khi phải xa rời những thứ thuộc về mình, những thứ tưởng chừng như đã nắm bắt trong tay thật chặt bỗng vuột mất quá nhanh, tàn nhẫn và khốc liệt .Dù cho tâm lý đã sẵn sàng đón nhận kết cục đã vạch ra trước mắt. Nhưng nỗi đau đớn cho một con người không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa lại không đớn đau bằng những gì mà những người chưa bị nó cưỡng đoạt sự sống phải chịu đựng trước sự ra đi của người thân. Nhưng con người chỉ “chết hẳn” khi không còn được nhớ đến. Ngược lại, cái chết lúc này chỉ giống như khi bạn “chuyển nhà”, từ cuộc sống thực tại vào trái tim những người thân yêu. Như sự ra đi của Robert Jordan sẽ không bao giờ bị lãng quên, người đọc qua các thế hệ vẫn sẽ khóc thương cho người lính trẻ dũng cảm và cao thượng. Đó là điều tôi có thể chắc chắn về “Chuông nguyện hồn ai”.

Nhân vật của Ernest Hemingway là những con người bình thường trong lát cắt của cuộc sống này. Họ Không ánh lên một vẻ đẹp phi thường nào, không được xây dựng hình tượng để với mục đích nhận sự ca ngợi mà họ được kì công khắc họa để tự viết tiếp cuộc đời của mình, không nhận lấy sự thiên vị của tác giả, để rồi đi vào lòng bạn đọc với những triết lý sâu sắc và cảm quan về nhân sinh mới mẻ. Với bản thân tôi, mỗi quyển sách không chỉ ở khía cạnh giải trí hay mở mang trí lực mà nó giúp tôi có cái nhìn thẳng vào cuộc đời, với trái tim đa cảm trước những con người dù bình dị, thầm lặng. Cuộc sống có hai dạng người: con người cho đi và con người nhận lại. Robert Jordan không phải là nhân vật được xây dựng để được tôn vinh mà như “một người thân thiết”dạy chúng ta về cách sống. Anh là con người của hành động, đồng thời cũng là con người của nhận thức, nghĩ nhiều và hành động nhanh. Con người này là bằng chứng cho những con người bình thường trên thế giới. Ban đầu là giáo viên dạy tiếng Tây Ban Nha sau đó tham gia kháng chiến chống Phát Xít. Tất cả những cảm xúc mà anh có cũng là những cảm xúc mà tất cả những con người bình thường nào cũng có thể có được. Nhưng hành động, cách con người đó suy nghĩ và cảm nhận về thế giới thì không hề tầm thường. Một giáo viên người Anh cớ gì phải cầm súng bảo vệ cho đất nước khác? Đơn giản là tình yêu của anh dành cho Tây Ban Nha, khi con người đã yêu một điều gì đó, một ai đó, họ sẽ muốn hiểu và bảo vệ những gì mà trái tim họ hướng đến. Dù bình dị nhưng Jordan chính là mẫu người ánh lên sự anh dũng trong thời chiến. Bên cạnh vẻ đẹp của lý tưởng hòa bình cao đẹp và những tính cách ánh lên chủ nghĩa anh hùng, Jordan còn là “Một kẻ mộng mơ”. Quá khứ đẹp đẽ về những con phố Madrid thân thuộc gần gũi, Khách sạn Gaylord hào nhoáng nơi anh và những người bạn của mình từng cùng nhau kể đủ chuyện trên đời. Và đặc biệt hơn chính là tình yêu của anh và Maria luôn hiện hữu dù ngắn ngủi nhưng nồng cháy và sâu đậm. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, anh hiểu được tình yêu đích thực, hiểu được cảm xúc của mình. Anh đã thừa nhận với Maria: “…Quả thực, những tham vọng của anh trước đây rất trong trắng. Anh đã làm việc nhiều và bây giờ anh yêu em,” anh nói như muốn ôm lấy tất cả những gì không bao giờ có được”. Trong cuộc chiến mà sự thất bại đã được báo trước dù con người đã cố ra sức ngăn cản, mơ ước về những điều tươi đẹp vẫn chính đáng vì ước mơ chẳng ai đánh thuế cả, cũng chẳng ai đo lường độ vĩ đại của ước mơ. Cho phép bản thân thả mình theo những mơ ước và tình yêu khi thực tại tàn khốc mà Cái Chết ở phía trước không phải là hèn nhát yếu đuối, mà càng chứng minh rằng con người khát sống, khát yêu mãnh liệt. Kể từ khoảng khắc chúng ta được sinh ra là lúc thời gian đếm ngược đến cái chết vì vậy mà cả đời đứng trên cao không quan trọng, quan trọng là khi đứng trước Cái Chết bạn có nuối tiếc hay không? Theo tôi, con người nên thành thật với bản thân, với cảm xúc của chính mình nhiều hơn, yêu nói yêu ghét nói ghét, đừng tự áp đặt hay lừa dối bản thân, đừng nên để định kiến áp bức tâm hồn.

Xuyên suốt cả câu chuyện là bi thương mất mát và một kết thúc buồn khi bao mộng ước dang dở và đường tình duyên cũng đoạn tuyệt khi anh xa rời cuộc sống. Có điều, kết thúc tuy buồn nhưng lại bi tráng. “Trung úy Berrendo có bộ mặt gầy gò, đượm vẻ trầm mặc, khẩu tiểu liên trong tay không có vẻ sẵn sàng nhả đạn vì được đặt ngang yên ngựa. Jordan nằm sau gốc thông, cố giữ cho tay khỏi run, thận trọng và nhẹ nhàng rê mũi súng theo hắn. Anh chờ cho Berrendo tới chỗ có ánh mặt trời chiếu sáng, nơi những cây thông đầu tiên của cánh rừng gặp vạt cỏ xanh rờn trên sườn núi, và nghe thấy tim mình đập dồn dập xuống mặt đất phủ đầy lá thông. Dù trong hoàn cảnh mà lúc này anh có thể “nghỉ ngơi” sau khi đã hoàn thành “cuộc hành trình” của mình, con người ấy đã chọn chiến đấu đến giây phút hơi thở cuối cùng được trút ra, nhịp đập cuối cùng của sự sống vang lên trong lồng ngực. Trong cái thời khắc anh nghe thấy trái tim mình đập, tôi nhận ra anh đã thực sự sống, sống không nuối tiếc. Con người sống không hoài phí đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, dù ngắn ngủi nhưng xứng đáng, xứng đáng với từng dòng máu nóng đang chảy trong huyết quản, từng hơi thở cuối cùng. Cái chết đẹp dành cho người sống hết mình. Những đoạn cuối cùng của cuốn sách ngôn ngữ bình thản đến lạ thường, Cái Chết đem đến đau đớn xác thịt còn tâm hồn hướng về mũi súng.

Mỗi tác phẩm là một lát cắt của cuộc sống, phản ánh cuộc sống. Vì thế mà nó mang nhiều nuối tiếc, mang nhiều mơ ước, mang nhiều tâm tư của người đọc, tác giả và chính những nhân vật trong câu chuyện cuộc đời của họ. Sự thật trần trụi của chiến tranh, tình yêu nồng cháy chân thực, tính cách đa dạng trong mỗi con người,… đã rung lên tiếng chuông xúc động mãnh liệt trong tôi. Tiếng chuông ngân lên xót thương cho những số phận con người đã sống, chiến đấu và ngã xuống trong thời đại đầy biến động, ghê ghớ và ác liệt của thế giới khi phải chống lại một thế lực đang ngày càng bành trướng. Hiện thực đang xen giữa những giá trị nghệ thuật tạo nên một tác phẩm với chiều sâu mà yêu cầu người đọc phải biết thưởng thức, chiêm nghiệm.

Tác phẩm kết thúc là bắt đầu cho chuỗi cảm xúc dâng trào. Cảm xúc đau buồn xót xa khi con tim thắt lại trước cái chết của Jordan, xen lẫn hảo cảm của một người đọc được tác phẩm rất hay, để rồi hụt hẫn khi khép lại trang sách và thấm thía khi đọc bài thơ của John Donne:
“Không người nào là một hòn đảo
Không tự bản thân ai là một thể hoàn chỉnh
Mỗi người đều là một mảnh của đại lục
Một phần của đất liền
Và nếu sóng cuốn xuống biển một mỏm đá ven bờ
Thì châu Âu sẽ bé đi
Cũng như là nếu nó cuốn mất một mũi đất
hay phá đổ nhà bạn anh hoặc nhà anh
Cái chết của bất cứ con người nào sẽ làm chính tôi bé đi
 vì tôi là một thể thống nhất với toàn nhân loại
 do đó anh đừng bao giờ hỏi chuông nguyện hồn ai
 chuông nguyện hồn anh đấy”
 
(Nguyễn Kha - học sinh lớp 12.5 trường THTH ĐHSP niên khóa 2015 -2018)

HAI VẠN DẶM DƯỚI ĐÁY BIỂN: HAI VẠN DẶM TRÊN HÀNH TRÌNH ƯỚC MƠ

Thuyền trưởn Nemo

Có nhiều lí do để một ai đó yêu thích Jules Verne , một vốn hiểu biết sâu sắc và uyên bác về địa lý, lịch sử, một trí tưởng tượng tuyệt vời và kì thú, một người kể chuyện hóm hỉnh và cuốn hút. Riêng tôi, tôi thích Jules Verne  và những tác phẩm khoa học viễn tưởng, bởi vì mỗi tác phẩm là một hành trình ước mơ.

Văn học là tấm gương phản ánh đời sống, từ thuở hồng hoang, con người đã gửi gắm vào văn học những ước vọng cao cả nhất của mình. Mỗi một công cụ lao động mới được ra đời, lịch sử tiến hóa của nhân loại lại lật sang một trang mới. Hàng ngàn năm, con người đã đi từ những bước chập chững đến những bước phát triển mau lẹ, vũ bão. Từ thời kì đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, đến cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật của thế kỉ XIX,XX và hiện tại là thời kì của công nghệ thông tin - mỗi một công cụ lao động mới ra đời, con người lại bước thêm một bước để có được một đời sống văn minh hơn, tiện nghi hơn, (có lẽ) hạnh phúc hơn. Sự phát triển ấy gắn với ngưỡng vọng muôn thuở nhất của nhân loại: khát vọng hạnh phúc.

Ngay từ thuở bình mình của văn học, văn học dân gian cũng đã truyền tải những ước vọng về hạnh phúc như thế, thông qua những chi tiết kì ảo. Chiếc đũa phép của bà tiên, đôi giày vạn dặm, chiếc bút thần biến tranh vẽ thành đồ vật, cỗ xay muối không bao giờ vơi cạn, viên ngọc quý giúp con người nghe thấy được tiếng nói của loài vật, chiếc chổi bay của bà phù thủy, chiếc thảm thần giúp con người chu du muôn nơi, tấm khăn trải bàn kì lạ có thể dọn ra bữa ăn thịnh soạn… Tất cả những phép màu ấy đều truyền tải tâm tư, nguyện vọng của con người: mong muốn có một thứ công cụ lao động giúp cuộc sống đỡ chật vật, vất vả.

Phép màu kì ảo của văn học dân gian ra đời từ mâu thuẫn giữa khát khao lí giải thực tại và hạn chế trong việc chiếm lĩnh, tri nhận thực tại của người xưa. Những chi tiết kì ảo của văn học dân gian mang đậm tính chất hoang đường. Nhưng bước vào địa hạt của văn học khoa học viễn tưởng, ước vọng xa xưa nhất của con người đã được thể hiện theo cách khác: Phi thường nhưng không hoang đường - đó đều là những tiên báo (dựa trên cơ sở hiện thực) của những nhà nghệ sĩ thiên tài có cái nhìn xa, rộng, với trí tưởng tượng linh hoạt, tư duy sắc bén và vốn hiểu biết phong phú. Từ phép màu của văn học dân gian đến khoa học viễn tưởng, đó là con đường đi từ nhận thức trực quan cảm tính mang đậm màu sắc duy tâm đến nhận thức lý tính mang đậm tính chất tiên báo trên cơ sở hiểu biết khách quan hiện thực cuộc sống.



Những sáng tác của Jules Verne , người được xem là cha đẻ của thể loại tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, cũng mang những tiên báo kì thú như thế.


Chúng ta thử điểm lại một vài “lời tiên tri” của ông:

Năm 1865, ông sáng tác “Từ trái đất đến mặt trăng” với ý tưởng đưa con người chinh phục mặt trăng thông qua một khẩu súng thần công. 1969, thế giới có Neil Amstrong người đàn ông đầu tiên đặt chân lên mặt trăng. Những ý tưởng trong tác phẩm của Jules Verne  trên thực tế đã trở thành gợi ý cho một vài công nghệ của NASA.

1889, trong tác phẩm 2889, Jules đã miêu tả một hình thức mới của báo chí truyền thông:“Thay vì cầm một tờ giấy chi chít chữ để ngấu nghiến cập nhật thông tin trong ngày thì sẽ có người đọc bản tin cho bạn vào mỗi buổi sáng”.  1920, thế giới có bản tin phát thanh đầu tiên. Và tới 1947, bản tin truyền hình đầu tiên lên sóng với bài phát biểu của tổn thống Nixon.

Cũng trong tác phẩm 2889, Jules Verne  đã đưa ra khái niệm “phonotelephote”:  Hình ảnh được chuyển đi nhờ vào những chiếc gương vô cùng nhạy được nối với nhau qua dây điện, người này trông thấy được người kia bất chấp khoảng cách”. Bạn có thấy ngờ ngợ điều gì không? Chính xác, đó là công nghệ Videocall, một phát minh gắn với sự phát triển của internet, và mới chỉ phổ biến ở Việt Nam ta trong một vài năm trở lại đây.

Trong “Hai vạn dặm dưới đáy biển”, một trong những tác phẩm thành công nhất của JulesVern, ông cũng đã thể hiện một tầm nhìn khoáng đạt đến kinh ngạc.

Chiếc tàu ngầm Nautilus với công nghệ siêu việt đã vượt xa khỏi sự tưởng tượng và khoa học kĩ thuật đương thời, thậm chí đến thời đại của chúng ta đó vẫn là một cái đích nằm ở tương lai. Chiếc tàu ngầm nhanh nhất thế giới hiện nay được cho là tàu ngầm Seabird của Mỹ (nguồn:kyluc.vn) với vận tốc 40 km/h, vẫn thua xa tốc độ 50 hải lý/h (tương đương 100km/h) của Nautilus. Nautilus có thể lặn xuống ở bất kì độ sâu nào, chiếc tàu ngầm sâu nhất thế giới hiện nay thuộc về Trung Quốc, với khả năng lận sâu khoảng 5000 m. Nhưng như chính Jules Verne trong lá thư viết cho cha mình đã từng nói: “Tất cả những gì con người hình dung ra được thì họ sẽ tìm được cách thực hiện”, Nautilus là một ước mơ, nhưng không phải là một ước mơ hoang đường, lịch sử  phát triển của công nghệ tàu ngầm có thể bảo chứng cho tương lai hứa hẹn đó.

Cái nhìn tiên báo của Jules Verne trong “Hai vạn dặm dưới đáy biển” còn tài tình ở chỗ, ông đã nhìn thấy trước được tiềm năng của năng lượng điện.  Máy phát điện đầu tiên được chế tạo vào năm 1832 bởi Faraday. Thời kì “Hai vạn dặm dưới đáy biển” ra đời, điện năng chưa phải là năng lượng phổ biến. Còn ngày nay, nói đến vai trò của điện năng trong đời sống, chắc hẳn không có gì cần phải nói thêm.

Bên cạnh việc truyền tải ngưỡng vọng hạnh phúc của con người, các tác phẩm của Jules Vern, đặc biệt là “Hai vạn dặm dưới đáy biển” còn chạm đến khát vọng sâu kín nhất của con người: sự thèm khát những điều mới mẻ, khao khát mạo hiểm dấn thân vào những cuộc phiêu lưu, trí tò mò không bao giờ thỏa về thế giới, về vũ trụ - Khao khát bứt phá khỏi mọi giới hạn của con người - khao khát tự do!

Sự tồn tại của con người luôn bị trói buộc bởi nhiều giới hạn: giới hạn không gian, giới hạn thời gian, giới hạn bởi hoàn cảnh của bản thân, giới hạn bởi điều kiện khách quan của lịch sử, giới hạn bởi năng lực chiếm lĩnh cuộc sống của bản thân, của toàn nhân loại… Con người tồn tại, bị giới hạn trong không gian và thời gian, không gian sống lúc nào cũng là nơi này, thời gian sống lúc nào cũng là bây giờ, mà cuộc đời thì bao la, vũ trụ thì vô hạn, làm sao có thể giải quyết bài toán đó để sống nhiều hơn, sống phong phú hơn, tích lũy được nhiều nhất trong giới hạn tưởng như không thể vượt qua được? Lời giải cho bài toán nan giải đó là đâu? Là văn học! Văn học giúp con người vượt qua mọi bờ cõi và giới hạn, ở hiện tại nhưng vẫn có thể chứng kiến một cuộc đối thoại ở quá khứ, ngồi trong nhà vẫn có thể thưởng lãm được mọi cảnh đẹp trên thế gian, thậm chí đến những vùng đất chưa một ai đặt chân tới, sống cuộc sống của mình, nhưng đồng thời sống thêm cuộc sống của các nhân vật trong tác phẩm. Văn học giúp con người sống nhiều hơn, trải nhiệm nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn, sống nhiều cuộc đời trong một cuộc đời mình đang có.




Giờ thì mời bạn bước lên con tàu Nautilus huyền thoại để cùng Jules Verne và các nhân vật bắt đầu cuộc hành trình: Hành trình của ước vọng vượt qua mọi giới hạn.

Đó là cuộc hành trình khiến ta mở mang tầm mắt,biết bao địa danh thay phiên nhau trải ra trước mắt ta. Eo biển Torress, đường ngầm Arabia quần đảo Hy Lạp, vũng biển Sargasso, mũi Horn, Amazone, dòng biển Gulf Stream, vực thẳm Mai stream - những vùng đất mà chỉ cái tên thôi cũng kích thích đam mê khám phá. Ta sẽ được lặn sâu xuống đáy biển để chiêm ngưỡng những kì quan hùng vĩ, sẽ được trải nghiệm sự hùng tráng của thiên nhiên trong cơn bão biển, sẽ được bay bổng nơi những cánh đồng băng nam cực phản chiếu cực quang huyền ảo.

Một chút nguy hiểm sẽ làm cho chuyến hành trình thêm thú vị: những đàn cá nhà táng khổng lồ trong trận chiến đẫm máu với tàu Nautilus, những con bạch tuộc hung dữ thân mềm đạn điện không thể tiêu diệt với những xúc tu quấn quanh thân tàu, những cuộc xung đột trên biển, và cả những cái chết… tất cả làm nên sức hấp dẫn nghẹt thở của cuộc hành trình. Trong con người luôn tồn tại một thứ bản năng đầy cảm dỗ đẩy họ vào nguy hiểm, ở nơi tận cùng nguy hiểm và trong tận cùng sỡ hãi, đâu đó vẫn phảng phất một niềm hưng phấn - có phải vậy chăng nên dù biển cả sâu thẳm và đầy cạm bẫy, vẫn biết bao nhiêu người hăng say lao vào chinh phục, để đạt được ước mơ và để chiến thắng những giới hạn - như chữ đề trên tảng phiêu nham trong trang văn của Pautopsky?

Trong chuyến thám hiểm ấy, cũng không thiếu những phút giây trái tim ta như bị bóp nghẹn: cảnh một con cá voi mẹ nằm chết trên mặt biển, bên cạnh là con của nó, mặt biển thì lênh láng máu sau một trận chiến khốc liệt; cảnh một thủy thủ trong đoàn của Nemo bị bạch tuộc lôi đi, và dù họ sử dụng thứ ngôn ngữ riêng quy ước với nhau, nhưng cận kề cái chết anh ta lại thốt lên lời kêu cứu bằng tiếng mẹ đẻ; cảnh một con tàu chìm dần chìm dần xuống lòng biển cho đến khi hoàn toàn mất hút trong màn đêm thăm thẳm của biển sâu… những ấn tượng đó chỉ thoáng qua trong tích tắc, nhưng lại có sức ám ảnh mãnh liệt đến vậy. Trong khát khao chinh phục những thử thách, cái ta nhận được chính là một trái tim giàu lòng trắc ẩn đã qua tôi luyện, đó là tình thương đối với cuộc sống, và đó cũng là cái thổn thức khi nhận ra sự mong manh của đời sống giữa cái vô tận vô biên của vũ trụ.

Trong chuyến hành trình vòng quanh thế giới kì thú này, JulesVerne còn dắt tay ta bước vào một cuộc hành trình khác, cuộc hành trình khám phá tâm hồn của con người. Ông đã xây dựng nên nhân vật thuyền trường Nemo - nhân vật phản anh hùng (antihero) đầy bí ẩn và mâu thuẫn khiến ta luôn tò mo, khiến ta mong muốn tìm hiểu, khao khát tìm hiểu. Chỉ cái tên của người đàn ông ấy cũng đã là cả một sự bí hiểm. Nemo trong tiếng latin có nghĩa là “no name” - không ai cả.  Đó là con người gần như không thể đoán định: Ông có thể bảo vệ đàn ca voi khỏi lũ thợ săn vì giết hại con vật chỉ để tiêu khiển là một việc không hay ho gì, nhưng ngay sau đó có thể mở một cuộc tàn sát đẫm máu với lũ cá nhà táng. Con người sắt đá ra lệnh đánh đắm cả một chiến thuyền, sau đó lại lặng đi trước tấm hình có một người phụ nữ và hai đứa trẻ, và khóc. Toàn bộ câu chuyện là những thắc mắc không ngừng của nhân vật chính  - cũng là thắc mắc của độc giả về Nemo, Jules Verne đã nhử chúng ta bằng những manh mối - những đoạn miêu tả về Nemo, và khi ta cảm thấy gần chạm đến đích thì ta khựng lại bàng hoàng, lớp màn sương bí mật càng lúc càng mở rộng hơn, mơ hồ hơn, không sao giải đáp được. Nemo là ai? Tại sao ông ta hành động như vậy? Mục đích của ông ta là gì? Tại sao ông ta khóc? Người đàn bà và hai đứa trẻ trên thuyền là ai? Ông ta có liên hệ gì đến con tàu “Báo thù”? Tất cả những câu hỏi ấy cứ xoáy sâu khiến ta không yên, thôi thúc ta đọc đến tận cùng tác phẩm. Ta hy vọng cuối tác phẩm, tất cả sẽ được giải đáp. Nhưng không, kết thúc tác phẩm vẫn mãi là một làn sương, tất cả những thông tin về Nemo chỉ là câu hỏi để ngỏ.

JulesVerne là một nhà văn khoa học viễn tưởng, việc ông xây dựng nhân vật chủ yếu qua hành động và ngôn ngữ, chứ không qua miêu tả tâm lý, là một việc dễ hiểu. Nhưng cách miêu tả đó trong việc xây dựng hình tượng nhân vật thuyền trưởng Nemo, có lẽ vẫn còn dụng ý khác. Trong hành trình khám phá một con người ngoài đời sống, có bao giờ ta có thể thâm nhập vào đối tượng như ta là chính họ, để nghe được trực tiếp diễn biến tâm lý của họ đâu? Ta cũng chỉ có thể phán đoán họ qua hành động, qua lời nói, qua nét mặt - cũng y như quá trình ta tìm hiểu Nemo - một nhân vật có sức hút mãnh liệt đối với bất kì ai. Chính vì điều đó khiến cho hành trình khám phá một con người cũng gay cấn và khắc nghiệt y như một cuộc hành trình trên biển vòng quanh thế giối. Cũng chính vì lẽ đó, con người trở thành những tiểu vũ trụ khép kín, mãi mãi cô đơn, mãi mãi rơi vào bi kịch không hiểu biết lẫn nhau.

Đến đây, Jules Verne dường như đã chạm vào ước mơ khác của đời sống con người: Ước mơ thấu hiểu người khác, và ước mơ được người khác thấu hiểu.

Và thật may mắn, nhờ có trái tim, ta vẫn, dù cho không thể lý giải, nhưng vẫn có thể cảm nhận một con người, như khi ta để cho hình ảnh cuối cùng của Nemo ám ảnh tâm trí mình. Một người đàn ông với tiếng phong cầm, với lời nói cuối cùng “Thế là đủ, tất cả thế là đủ”, và rồi người đàn ông vĩ đại ấy cùng còn tàu huyền thoại của ông ta dần mất hút trong vực thẳm Mainstream - “Cái rốn của đại Tây Dương”. Con người vĩ đại dần mất hút trước hùng vĩ của thiên nhiên, và dù ta có thể không bao giờ lí giải được tại sao mình lại choáng ngợp trước tầm vóc của Nemo, cũng như tại sao ta thấy Nemo thật vĩ đại và cao cả, nhu thế có lẽ là cũng đủ, vì trái tim luôn có những lí lẽ của riêng mình.

Những trang sách cuối cùng đóng lại, cuộc hành trình sẽ mãi mãi lôi cuốn bạn đọc, với sức hút như một lỗ đen vũ trụ, cám dỗ mọi tâm hồn khát khao khám phá, khát khao chinh phục. Cuộc hành trình của các nhân vật chính đã hết, nhưng cuộc hành trình thật sự của đời sống mới bắt đầu. Từ những trải nghiệm kia, từ những xúc cảm kia, từ những ấn tượng mà tác phẩm Jules Verne mang lại sau cuộc hành trình, biết đâu một ước mơ mới đã được gieo mầm.

Chừng nào nhân loại còn ngưỡng vọng đến một tương lai đầy hứa hẹn, chừng nào những kì quan thiên nhiên còn có sức hấp dẫn với con người, chừng nào con người còn không nguôi nỗi tò mò về vũ trụ bao la rộng lớn, thì người ta sẽ còn yêu thích Jules và say mê các tác phẩm của ông, bởi ước mơ chính là động lực của cuộc sống.




Like