Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện thơ dân gian. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện thơ dân gian. Hiển thị tất cả bài đăng

Vài nét về nghệ thuật của truyện thơ "Tiễn dặn người yêu"



I.                  Cấu trúc điệp
Điệp - cụ thể là điệp cấu trúc – chính là biện pháp tu từ được sử dụng chủ yếu trong truyện thơ Xống chụ xon xao. Việc sử dụng đậm đặc biện pháp nghệ thuật này, có thể được lí giải như sau:
Thứ nhất, văn học dân gian là văn học truyền miệng, con đường lưu truyền của văn học dân gian là con đường trí nhớ, chính vì vậy mà văn học dân gian thường lược bớt các yếu tố cụ thể, chi tiết, và tăng cường các yếu tố lặp lại, giống nhau, phiếm chỉ, khái quát. Các yếu tố lặp lại này chính là thành phần cố định của cốt kể. Với dung lượng dài, khoảng 1846 câu, việc sử dụng phép điệp ngữ là một điều hiển nhiên với con đường lưu truyền bằng trí nhớ.
Thứ hai, truyện thơ các dân tộc thiểu số thường được diễn xướng dưới dạng những khúc ca. Điệp ngữ chính là biện pháp nghệ thuật tạo nên tiết tấu, nhịp điệu cho văn bản, nó góp phần tạo nên những điệp khúc giàu nhạc điệu.
Ngoài ra, việc sử dụng điệp ngữ trong tác phẩm cũng tạo ra những tác dụng nghệ thuật nhất định.
Có khi điệp ngữ thể hiện bước nhịp vận động của thời gian:
Mẹ cha ưng gả khi em còn trên nương
Khi em đang ngoài ruộng
Chiều tới, mặt trời rụng
Mặt trời rơi xuống thấp
Mặt trời sát mặt phai
Mặt trời qua sàn ngoài người thương
Mặt trời quấn ngọn giang sắp lặn
Mặt trời quấn ngọn trẻ, ngọn bương sắp tắt
Mặt trời lặn, mặt trời không gọi
Mặt trời đi, mặt trời không chờ
Mặt trời khuất mây mờ, sập tối”
Không gian mở ra cùng thời gian, thời gian hiện hữu qua hình ảnh mặt trời. Ở đây là cảnh của buổi chiều tà khi mặt trời đứng bóng, ánh sáng ban ngày dần tắt để màn đêm bao phủ và ngự trị.
Điệp cấu trúc “ mặt trời…” làm cho nhịp thơ nhanh, gấp gáp, thể hiện sự biến đổi nhanh chóng của thời gian, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi như chớp nhoáng, nhưng từng trạng thái của mặt trời lại thể hiện tâm trạng, mang nặng nỗi lòng, ở đây có lẽ cảm xúc của chàng trai, người kể lại câu chuyện đớn đau này, hoặc cũng có thể là tâm trạng của cô gái, hiện lên qua cảm nhận và sự thấu hiểu của chàng trai.
Mặt trời “ rơi” “ rụng”, những trạng thái lỏng lẻo vô định, đầy bất trắc và cũng thật chơi vơi, có lẽ tâm trạng ở đây là những đau đớn tiếp nối của hai câu thơ trước những bấp bênh của số phận mà con người không thể chống lại. Đó cũng là một điềm báo mơ hồ cho những biến cố đầy thương tâm sắp xảy đến với số phận con người.
Mặt trời “ quấn” – “Mặt trời qua”: Sự dùng dằng tiếc nuối như níu kéo, trì hoãn quy luật vận động của thời gian. Ở đây câu thơ dài ra, số chữ tăng lên, tuy nhiên nhịp thơ vẫn không đổi, chính điều này làm cho cảm giác trì trệ, dùng dằng nìu kéo trở nên rõ ràng, đậm nét hơn.
Mặt trời lặn, mặt trời không gọi
Mặt trời đi, mặt trời không chờ
Phép đối tương ngỗ, hai câu thơ sóng đôi, “ lặn” đối với “đi”, “không gọi” đối với “ không chờ” đã tạo ra một chỉnh thể thống nhất và toàn diện, như một quy luật bất biến và cứng cỏi của thời gian: Rồi mặt trời cũng lặn!
Ở đây Điệp ngữ vẫn tiếp tục được sử dụng, luyến nhấn hình ảnh mặt trời lặn, thật đột ngột và cũng thật chênh vênh.Đây là hình ảnh thật của tự nhiên, khác hẳn với những tâm trạng ở những câu thơ trên , vốn là tâm trạng của con người gán vào tự nhiên. Hình ảnh mặt trời ở câu thơ này hiện ra vừa thực vừa ảo, vừa khách quan lại vừa thật chủ quan, nhưng dù theo cách nhìn nào thì mặt trời vẫn phải tuân theo quy luật mọc-lặn tuần hoàn bất biến của thiên nhiên. Dù dùng dằng níu kéo cũng không thể thoát khỏi những quy luật bất biến ấy. Qua hình ảnh mặt trời, ta như mường tượng ra thân phận của người con gái bé nhỏ đang đi dưới bóng mặt trời, có những quy luật, những luật lệ hà khắc vô lý phá hoại hạnh phúc và cuộc đời cô, nhưng cô vẫn phải tuân theo mà không thể phản kháng.
Cuối cùng mặt trời cũng lặn và màn đêm ập đến thống trị:
Mặt trời khuất mây mờ sập tối
“Sập” là một động từ mạnh, nhanh, thể hiện sự ập tới bất chợt, đột ngột và mạnh bạo. Cụm từ “ sập tối” chỉ vỏn vẹn có hai tiếng ngắn gọn nhưng lại thể hiện đầy đủ và hoàn chỉnh sự biến chuyển của thời gian và không gian. Cách thể hiện thời gian này khác hẳn với cách thể hiện chi tiết cụ thể ở trên, nó chỉ vẻn vẹn hai tiếng thơ ngắn gọn nằm ở cuối dòng thơ. Nhưng sự ngắn gọn ấy không làm màn đêm yếm thế, lép vế so với mặt trời, ở đây màn đêm như một chiếc lồng khổng lồ đen kịt, như một cạm bẫy bí hiểm, đầy uy quyền và sức mạnh, chụp xuống đột ngột và bất ngờ, nhanh chóng bao phủ, ngự trị.
Phép điệp cấu trúc được vận dụng một cách độc đáo trong đoạn em yêu trì hoãn thời gian về nhà chồng:
Cha em và mẹ em mới nói:
-Năm nay năm đưa vịt tía về phủ
Năm đưa gái lớn về nhà chồng
Đưa đâu đưa tháng Giêng
Em yêu vội đáp:
Tháng Giêng là tháng kiêng”
“Rồi mẹ em yêu nói
Thế đưa dâu tháng mấy?
Đưa dâu đưa tháng hai
Em yêu vội đáp:
-Tháng hai càng kiêng kĩ”
“Rồi mẹ yêu em nói:
“Thế đưa dâu tháng mấy
Hay đưa dâu tháng Ba…?”
Em yêu vội đáp:…”
Cứ thế, cứ thế cho đến hết mười hai tháng, thời gian cứ ít dần, ít dần, lí lẽ cứ cạn dần, cạn dần, cha mẹ ngày càng giục giã. Phép điệp cấu trúc kết hợp với nghệ thuật tăng tiến đã tạo cho cốt truyện kịch tính, dần phát triển đến cao trào. Nhân vật trong nhịp độ kịch tính ấy tìm mọi cách xoay xở, tìm mọi cách trì hoãn, nhưng cuối cùng đành bất lực chấp nhận số phận bi kịch đến với mình. Quá trình trì hoãn để chờ đợi người yêu, cũng có thể xem như tinh thần đấu tranh của con người để giành lấy hạnh phúc vậy, dẫu rằng ở giai đoạn này sự đấu tranh còn sơ khai, dễ bị dập tắt.
Có khi điệp ngữ dùng để mô phỏng nhịp độ hành động:
“Người mới bảo chồng em vác gậy to xuống đánh
Cầm gậy dài xuống phang
Đánh em khi chập tối
Nện em hồi nửa đêm
Nện em như nện bịch
Như chúa mường nện chiêng”
Từng nhịp lặp lại như từng nhát roi, từng miếng đòn giáng xuống người em yêu vậy!
Tác dụng nhấn mạnh của điệp ngữ cũng được thể hiện rất rõ rệt. Có khi là nhấn mạnh cảm xúc xót xa, đau đớn của con người với hai câu thơ:
“Anh đã tính mà tính chưa tròn
Anh đã lo mà lo chẳng tới”
Hai câu thơ trên lặp đi lặp lại xuyên suốt mạch truyện, tạo thành một xoắn ốc cảm xúc, cứ khắc sâu, khắc sâu, xoáy đậm, xoáy đậm, khắc khoải khôn nguôi.
Cũng có khi lại là nhấn mạnh vào hoản cảnh bi đát của con người:
Em lập cập chạy ra sàn
Mâm cơm chiều dọn vội
Nghĩ đến anh mà nát ruột gan
Như nặn nến sáp không nên
Như ôm cây to không xuể
Em lập cập chạy vào đằng gần
Cất tiếng xa gần trách chú:
- Giúp cháu với, bác trai, bác gái nhà trên
Giúp cháu với, ơi chú, ơi thím nhà dưới!
- Chúng ta không giúp nổi cháu ơi!
Ta đã ăn gói trầu nhỏ người mang tới gửi
Gói cau con người mang tới dạm
Dây trầu không người để gửi cuốn leo!
Em lại kêu lên:
- Giúp tôi với, hỡi chị em dâu rể trong nhà!
Chị em dâu rể trong nhà cũng đáp:
- Không giúp được em ơi!
Ta cũng ăn gói trầu nhỏ người mang tới gửi
Gói cau con người mang tới dạm
Dây trầu không người để gửi cuốn leo!
Phép điệp ở đây gợi cho ta từng bước chân lập cập của cô gái chạy gắp nhà trong nhà ngoài, là ánh mắt van lơn nhìn khắp mọi người trong nhà, là tiếng cầu cứu vang lên nhưng bị từ chối – tình cảnh tuyệt vọng bi đát tận cùng!
II.               Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Đối với tác phẩm tự sự, nhân vật là yếu tố trung tâm, gắn liền với cốt truyện, thể hiện tập trung tư tưởng tình cảm mà tác giả gửi gắm. So với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích… cách xây dựng nhân vật của truyện thơ có nhiều điểm khác biệt. Truyện thơ dân gian là sự kết hợp hài hòa của tự sự và trữ tình, chính vì vậy mà nhân vật của truyện thơ dân gian không còn là nhân vật hành động, nhân vật số phận (nhân vật chức năng) như truyện cổ tích hay thần thoại, mà trước hết đó là nhân vật được miêu tả với thế giới nội tâm sâu sắc, tự nhân vật có sức sống nội tại riêng như một con người có thật, mang ý nghĩa nhất định, đã thoát khỏi dạng nhân vật chức năng thường thấy ở các thể loại khác.
Điểm đặc biệt trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của “Xống chụ xon xao” có thể kể đến trước hết là cách đặt tên nhân vật.Văn học dân gian là sản phẩm của tập thể,có tính khái quát cao, chính vì vậy mà yếu tố cá thể được loại trừ tối đa. Các tên nhân vật, nếu có, như anh Khoai (cây tre trăm đốt), Sọ Dừa, Tấm, Cám… cũng đều là những cái tên có ý nghĩa phiếm chỉ, khái quát, chứ không phải danh từ riêng chỉ cụ thể một đối tượng nào. Những cái tên trong các tác phẩm văn học dân gian chính là cách nhân dân sử dụng biện pháp cải danh, mỗi cái tên thực chất là sự khái quát cho phẩm chất, đặc điểm của nhân vật, thể hiện nhân sinh quan của nhân dân.
Cách đặt tên nhân vật chính trong Xống chụ xon xao cũng không nằm ngoài quy luật đó, tuy vậy ở tác phẩm này, cách đặt tên nhân vật có phần đặc biệt về sắc thái tình cảm: nhân vật nữ chính gọi là “em yêu”, và nhân vật nam chính gọi là “anh yêu”. “Anh yêu” và “em yêu”, đó là hai từ phiếm chỉ, cũng giống như mọi cái tên khác và mọi cách xưng hô khác trong truyện cổ dân gian, tuy vậy, cách gọi ở đây cho ta thấy một tâm hồn thơ mộng, dạt dào tình cảm của con người dân tộc Thái. Cái tên chính là một sự cải danh khái quát cho đặc trưng của nhân vật, hai nhân vật của Xống chụ xon xao kể từ khi ra đời, từ khi còn là hai bào thai đã mang đặc trưng của tình yêu thương, điều này phù hợp với diễn biến câu chuyện, với chủ đề tình yêu – một thứ tình yêu định mệnh – chủ đề có sức hấp dẫn lớn trong tác phẩm.
Và nghệ thuật xây dựng tâm lí nhân vật trong truyện thơ chính là một điểm phát triển lớn trong nghệ thuật tự sự dân gian.
Truyện cổ dân gian không coi trọng miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Phần vì nếu dựng tâm lí nhân vật, cốt truyện sẽ trở nên phức tạp, rối rắm không cần thiết,  gây khó khăn cho quá trình lưu truyền bằng trí nhớ. Mặt khác nhân vật của truyện cổ dân gian vốn vẫn được hiểu dưới góc độ là nhân vật chức năng, nhân vật vận động theo một số phận định sẵn, theo một motif có sẵn, với mục đích thể hiện tư tưởng tình cảm của nhân dân, về ước mơ công lí và chiến thắng cuối cùng của cái thiện trước cái ác.
Nếu nhân vật cổ tích buồn, thì tâm trạng đó cũng chỉ được miêu tả qua vài từ:
Hai đứa cùng mang giỏ đi ra đồng, Tấm bắt được nhiều, Cám bắt được ít. Cám bảo rằng: "Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng".
Lúc con Tấm hụp xuống thì con Cám ở trên bờ trút lấy cả tôm tép của con Tấm vào giỏ mình rồi mang về trước. Con Tấm lên dòm đến giỏ thì thấy mất cả, nó mới khóc hu hu lên.”[1]
(Tấm Cám)
“Đứa ở tưởng thật, vác dao đi rừng. Nó kiếm khắp nơi, hết rừng này qua rừng nọ, không tìm đâu thấy có cây tre đủ trăm mắt. Buồn khổ quá, nó ngồi một chỗ ôm mặt khóc. Bỗng thấy có một ông lão râu tóc bạc phơ, tay cầm gậy trúc hiện ra bảo nó: "Tại sao con khóc, hãy nói ta nghe, ta sẽ giúp cho".”[2]
(Cây tre trăm đốt)
Với truyện thơ, cụ thể là truyện thơ Xống chụ xon xao, có thể thấy nội tâm nhân vật được miêu tả tỉ mỉ, khắc sâu một cách tối đa. Nếu miêu tả nỗi buồn và giọt nước mắt thì:
Ngẩng lên, hàng lệ rưng
Nước mắt rỏ hai dòng
Rỏ ba dòng
Dòng rơi đằng trước đủ tràn năm máng
Dòng rơi đằng sau đủ cho em rửa mặt ăn cơm
Một dòng đủ rửa trâu to mang luộc
Dòng rơi xuống đất đủ đắp đập
Dòng rơi vào hốc đá đủ bắc lên ruộng bậc thang
Có thể thấy rất nhiều biện pháp tu từ được tác giả dân gian vận dụng để miêu tả cảm xúc nhân vật: điệp ngữ, khoa trương, hài âm, cụ thể hóa… Cách miêu tả chi tiết khiến cho chất trữ tình của tác phẩm thêm nồng nàn, đậm đà, khơi gợi được lòng đồng cảm mạnh mẽ từ phía người đọc.
Không chỉ miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, tâm lý nhân vật được xây dựng trên thủ pháp  trùng điệp nhằm khắc sâu, khắc đậm, tạo nên một điệp khúc khắc khoải không ngừng những cung bậc cảm xúc:
Anh đã tính mà tính không đủ
Anh đã lo mà lo chẳng tròn
Tay trái cầm gói cau lau mắt
Tay phải xách giỏ cá thẹn thùng

Em đã tính mà tính không đủ
Em đã lo mà lo chẳng tròn
Đành liều mượn dao người chặt cây
Mượn rựa người dẵn cùi

Em đã tính mà tính không đủ
Em đã lo mà lo chẳng tròn
Làm không nổi, sống coi như chết
Như ăn lá ngón lìa đời

Anh đã tính mà tính không đủ
Anh đã lo mà lo chẳng tròn
Hai  núm một chài khó liệng
Mười đêm, cá lượn đàn cuối thác, chài buông không tròn.
Ngay cả những biến thái tinh vi của cảm xúc, những khúc quanh tâm trạng cũng được tác giả dân gian tinh tế thể hiện:
Em đã tính mà tính không đủ
Em đã lo mà lo chẳng tròn
Khóc vùi giữa bản không nên
Gào giữa ban ngày sượng mặt
Sẽ khóc ư? Cười ư?
Khóc, người trong bản sẽ cười
Cười, người trong mường sẽ nói
Diễn biến tâm lý nhân vật trong truyện cổ dân gian thường khá đơn giản. Vui thì cười, buồn thì khóc, giận dữ, oán trách, mưu toan – tất cả đều được thể hiện một cách rất giản đơn qua các biểu hiện gương mặt. Như vậy có thể thấy, sự biến đổi cảm xúc của nhân vật trong đoạn trích truyện thơ Xống chụ xon xao trên có sự khác lạ: Đó là những dằn xé nội tâm – buồn, lo, đau xót, tiếc thương pha trộn vào nhau, xoáy sâu vào nhau; và ngay cả việc thể hiện nó ra, khóc hay cười, hay gào khóc, cũng đầy đắn đo, đầy băn khoăn.
Tâm lý nhân vật trong truyện thơ Xống chụ xon xao được miêu tả gắn với những tín ngưỡng dân gian của dân tộc Thái.
Tâm trạng vui vẻ hạnh phúc hân hoan của đôi trai gái khi gặp lại nhau được miêu tả:
“Mười đêm chuyện nhỏ to êm đềm
Như đôi uyên ương cửa hang ngấp nghé
Hoa khẳm cuối cùng nảy lá non tươi
Chỉ vàng, đỏ, lụa là lại vây quanh cô gái quá thời”.
Con gái Thái đến tuổi dậy thì thường thu góp chỉ màu, vải đẹp để thêu thùa, may mặc, chuẩn bị cho những ngày láy chồng. Câu thơ ở đây ý nói: Lại sống lại những ngày vui sướng, rạo rực của thời thanh xuân.
Tâm trạng lưu luyến nhớ nhung của đôi lứa yêu nhau được miêu tả gắn với quan niệm về vía:
Vía anh yêu đừng nằm nơi gốc lau
Đừng ngủ sau gốc sậy
Hỡi vía anh yêu, về nhà theo nhau
Em khoác lẵng, em gánh củi
Vừa đeo rựa, vừa xách bầu
Gọi vía là một quan niệm của người dân tộc Thái. Người Thái xưa cho rằng một người có năm mươi vía đằng trước, ba mươi vía đằng sau. Vía đằng sau thường hay bị lạc mất nên đi đâu người ta thường hay nhủ vía theo đó. Ở đây cô gái gọi vía mình, nhưng lại gọi vía anh yêu – đối với họ người yêu luôn hiện hữu trong tâm hồn mình, trong tâm khảm mình, là một phần máu thịt không thể tách rời.
Hay phút bị rịn trong giây phút tiễn đưa nhau:
“Xin hãy cho anh kề vóc mảnh
Cuốn quanh vai ủ lấy hương người
Cho mai sau lửa xác đượm hơi
Một phút bên em thay lời tiễn dặn”
Tục mai táng của người Thái rất đặc biệt, họ tin rằng để người chết có thể thanh thản về thế giới bên kia, thì phải hỏa táng người đó với vật của người mà người chết yêu thương nhất, như vậy người chết khi về cõi vĩnh hằng sẽ mang theo hơi của người thương. Nhân vật nam khi còn sống mà đã xin ôm chặt người tình để dành hơi, đó là bởi ngay phút chia tay đó anh đã biết cả cuộc đời này người anh yêu thương nhất chỉ có một mà thôi, mãi mãi trong cuộc đời và đến lúc chết đi, trái tim anh chỉ dành cho “em yêu” – mối lương duyên định mệnh của anh.
Điểm đặc biệt hơn cả trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Xống chụ xon xao có thể thấy đó là cách các nhân vật ứng xử với thiên nhiên. Có thể nói các nhân vật hòa mình một cách trọn vẹn với tự nhiên, trân trọng thiên nhiên, coi thiên nhiên như người bạn.
Khi “em yêu” về nhà chồng đã từ biệt những đồ vật, con vật trong nhà:
“Xin chào cột cái đuôi cá thon
Cột con đuôi nhạn xòe
Lượt chân gianh xén bằng
Hàng rui theo hàng mè san sát
Tấm gianh kia phủ trùm kín mái hiên”
“Xin chào khung cửi, guồng xa, con thoi, cái suốt
Chào trâ, chào ngựa, chào bò, mùa tết vui gặm cỏ non xanh
Xin chào đàn vịt thương mắn đẻ
Đàn gà thương chăm gáy ta ơi!”
“Chào nơi nền cối ta nêm chày
Lòng máng nơi hằng đâm giã
Nái lợn đen dưới thang
Nái lợn lang gầm sàn
Xin chào nơi góc chạn đặt cuộn lá chuối
Giàn cao nơi đặt chậu gạo ngâm”
Sự tiễn biệt đồ vật ở đây thể hiện tâm hồn gắn bó hòa hợp với thiên nhiên của con người, đồng thời đó cũng là một sự trì hoãn về thời gian, giây phút tiễn đưa vì thế cứ kéo dài mãi, kẽo dài mãi.
Khi ở nhà anh yêu trong kết thúc truyện, lúc anh yêu chưa nhận ra em  yêu, em yêu thở than với các sự vật trong nhà:
“Em giã gạo, thở than cùng lợn
Em chăn lợn, thở than cùng gà
Em thở than bên chày gỗ cạ
Em thở than cạnh chày gỗ mư”
Khi anh yêu vào rừng săn tìm lễ vật để hỏi cưới em yêu, trong tình thế cấp bách nhưng anh yêu vẫn nghe được tiếng kêu cứu của các loài vật và tha mạng cho chúng:
“Anh thấy vợ chồng nai nối đuôi nhau ăn cỏ đồi than
Gặm cỏ gianh non mới mọc
Súng đẹp, súng bền chắc
Nỏ đẹp tên thuốc nhọn, bước lên
Nai sợ ngã, sợ chết:
Xin van người người hỡi
Xin chàng tài giỏi tha cho
Gái má hồng đang chờ
Gái thanh xuân đang đợi chàng ơi
Anh bỗng rời cò súng không bắn”
“Chim sợ ngã, sợ chết:
Xin van người, người hỡi!
Xin chàng tài giỏi tha cho
Gái má hồng đang chờ
Gái thanh xuân đang đợi, chàng ơi!
Anh rẽ đi, qua đi”
Các chi tiết trên góp phần giúp chúng ta hiểu thêm về tinh thần của con người dân tộc Thái. Đó là tinh thần hòa hợp với thiên nhiên, gắn bó với thiên nhiên. Tâm thức của người Việt xưa đồng nhất con người với thiên nhiên, nên mới có hiện tượng motif tái sinh nhờ thực vật, con người chết hóa thành tro bụi từ tro bụi mọc thành cây, từ cây con người lại tái sinh. Truyện thơ Xống chụ xon xao được ước tính ra đời vào khoảng thế kỉ XVII, XVIII – vẫn thể hiện phần nào tâm thức ấy.
 Ngoài ra, còn có thể lí giải hiện tượng trên bằng cách xem xét vũ trụ quan của người Thái. Vũ trụ quan của người Thái gồm ba thế giới, một thế giới ở trên trời cao và hai thế giới cùng tồn tại ở mặt đất, một bên là thế giới của những người sống và một bên là thế giới của ma. Thế giới trên trời có Then Luông là đấng tối cao nhất cai quản trời đất, loài người và vạn vật, Then Luông được các quần thần giúp việc. Dưới trần gian, bất cứ ở nơi nào cũng có các ma (phi) cai quản. Muốn lập bản, khai phá ruộng, phát nương, đánh cá, săn thú đều phải xin phép các ma ruộng, ma nương, ma rừng, ma suối… Những vị thần trên trời, các ma dưới trần kể trên cùng với ma nhà (phi hươn), ma họ (phi đẳm), những ông, bà, cụ kỵ đã khuất (pú pầu) là những lực lượng phù hộ, bảo vệ người.
Cách tri nhận vũ trụ như vậy dẫn tới quan niệm vạn vật trong thiên nhiền đều có sự sống, đều có hồn, từ đó dẫn tới cách đối xử rất nhân văn với tự nhiên: tôn trọng tự nhiên, bầu bạn với tự nhiên, tâm tình cũng tự nhiên.




[1] Nguồn: http://music.vietfun.com/trview.php?cat=11&ID=878
[2] Nguồn: http://music.vietfun.com/trview.php?ID=3457&cat=11

Về kết thúc của truyện thơ dân gian "Tiễn dặn người yêu"




Nhìn chung cốt truyện của các sáng tác văn học dân gian khá đơn giản, thường tổ chức thành từng motif nhất định. Kết thúc của các tác phẩm chính là phần gửi gắm tư tưởng, tình cảm của tập thể nhân dân. Qua cách sắp đặt số phận của nhân vật, qua cách kết thúc có hậu hay không có hậu, mà nhân dân lưu giữ, truyền đạt những kinh nghiệm, tư tưởng của mình cho thế hệ sau. Truyện thơ các dân tộc thiểu số thường có hai kết thúc, một là kết thúc đau khổ, bi kịch, bế tắc (chiếm đa số) và những kết thúc có hậu (chiếm số lượng ít hơn). Nếu các kết thúc bi kịch là tiếng nói tố cáo xã hội sâu sắc, thì kết thúc có hậu chính là ước mơ công lý và hạnh phúc của nhân dân.

Truyện thơ Xống chụ xon xao của dân tộc Thái là một chuyện thơ có kết thúc có hậu.
Sau khi bị nhà chồng trả về mẹ đẻ, “em yêu” lại tiếp tục bị gia đình mẹ đẻ mang ra chợ bán, vô tình lại bán cho người tình xưa với giá ba nắm lá dong. Thế nhưng thời gian trôi qua biết bao dâu bể, “em yêu” đã trở nên xơ xác, tàn tạ, không còn là cô gái xinh đẹp trẻ trung năm xưa, nên “anh yêu” đã không nhận ra người tình của mình. Một lần trong lúc nhớ người tình, “em yêu” lấy chiếc đàn môi bằng đồng – vật đính ước năm xưa của hai người ra thổi, nghe tiếng đàn anh yêu nhận ra người xưa, quyết định trả vợ về nhà mẹ đẻ, để nối lại xuyên xưa.

Ở đây ta bắt gặp motif vật đính ước quen thuộc trong các truyện cổ dân gian. Truyện cổ dân gian các dân tộc trên thế giới vốn quen thuộc với hình tượng những đồ vật có tính chất ước hẹn để nhân vật chính tìm thấy nhau, nối tiếp lại hạnh phúc. Có thể kể đến các vật đính ước như chiếc giày lọ lem, chiếc hài của Tấm, đĩa trầu têm cánh phượng của cô Tấm khi ở nhà bà lão bán nước… Các vật đính ước này thường có hai điểm chung: Thứ nhất, nó là vật thể hiện đặc trưng của chủ nhân, và chỉ tồn tại duy nhất thuộc về người đó (chiếc giày cô bé lọ lem, chiếc hài của Tấm, trầu têm cánh phượng của Tấm), và thứ hai, nó là vật dụng gần gũi với đời sống của nhân dân các dân tộc, gắn bó với đời sống vật chất và tinh thần của họ.


Chiếc đàn môi trong tác phẩm cũng có những tính chất tương tự. Nó là vật đính ước của chàng trai và cô gái, tiếng đàn môi thể hiện tại hoa của cô gái. Chính vì thế mà ngay khi cô gái cất tiếng kèn, chàng trai đã nhận ra ngay:
“-“Đôi ta yêu nhau còn gửi vật tn
Đàn môi đồng anh gửi em đây thay mặt…”.
Em rút đàn môi em gẩy
“Bạn tình ơi còn nhớ hay quên?”
Chồng yêu em mới nói:
-“Kẻ khó sao đàn môi thánh thót
Người nghèo hèn sao réo rắt đàn đồng?
Sao ngân rung như tiếng đàn người cũ
Sao thoảng chừng như giọng nhớ người thương?”
Đàn môi là một nhạc khí phổ biến của các dân tộc vùng Tây Bắc, nhưng để thổi hay loại nhạc cụ này phải trải qua khổ luyện và phải có tài năng. Không chỉ là tài năng, mà còn là tấm lòng, là yêu thương, là kỉ niệm, từng ấy yếu tố kết tinh trong tiếng đàn để biến nó thành tiếng đàn độc nhất – giống như chiếc giày lọ lem chỉ vừa với duy nhất bàn chân của chủ nhân – để người yêu nhận ra người yêu, để hạnh phúc trở về với hạnh phúc, để giúp nhân vật chính vượt qua thử thách cuối cùng để cùng nhau đi đến kết thúc hạnh phúc, thể hiện ước mơ công lý của nhân dân. Đó cũng là niềm tin của nhân dân vào những điều tốt đẹp trong cuộc đời, mang giá trị nhân văn sâu sắc.

Tính tập thể là tính chất quan trọng của văn học dân gian. Các sản phẩm của văn học dân gian đều là sản phẩm của nhân dân, cho nên tất yếu sẽ gắn bó với đời sống của nhân dân, mang đậm tính dân tộc.  Các hình tượng đồ vật trong các truyện cổ dân gian luôn có tính chất dân tộc đậm nét: đó là những đồ vật đặc trưng cho từng dân tộc, gắn bó với đời sống của từng dân tộc. Sự biến thân của các hình tượng đồ vật sự vật trong văn học dân gian cuối cùng cũng quay trở về thành những hình ảnh gần gũi nhất, bình dị nhất của nhân dân, quay trở về với tấm lòng và tư tưởng của nhân dân. Ví như cô Tấm, trong sự biến thân của mình, từ chim vàng anh, cây xoan đào, đến khung cửi, và cuối cùng là quả thị trong bàn tay bà lão tốt bụng, lương thiện, cũng là quá trình vận động biến thân về với nhân dân. Chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, không gian của nó là ở đâu? Chính là ở nơi cung vàng điện ngọc, gắn với nhà vua. Chính trong nơi ấy nhân vật chính mới không được yên ổn, mới bị cái ác truy diệt. Cuối cùng, trong hình hài trái thị được nhân dân bảo bọc, cô Tấm đã gặp lại nhà vua và tìm về hạnh phúc, thưởng thiện, phạt ác theo đạo lý của nhân dân. Như vậy ta thấy, chỉ khi biến thành cây thị mọc ở nơi thôn dã, chỉ khi rụng vào tay bà lão bán nước lương thiện, đại diện cho nhân dân lương thiện, thì cô Tấm mới được bảo vệ, mới có sức mạnh để chiến thắng cái ác. Đây chính là tư tưởng hướng về nhân dân, đạo lý là ở nhân dân, sức mạnh là ở nhân dân, tấm lòng là ở nhân dân.

Chiếc đàn môi của dân tộc Thái trong kết thúc truyện Xống chụ xon xao cũng có cái ý vị như thế. Chiếc đàn môi đã có từ rất lâu, đó là một nét văn hóa  truyền thống đầy chất thơ của người dân tộc vùng Tây Bắc. Họ thổi đàn môi trong những ngày lễ hội. Họ thổi đàn môi để giao duyên, đối đáp. Họ thổi đàn môi để tỏ tình, để giãi bày tâm tư. Đàn môi là vật gắn với niềm vui, gắn với hạnh phúc, là gắn liền với đời sống tinh thần con người, là người lắng nghe những tâm sự, là ông tơ bà nguyệt nối liền yêu thương. Ở Tây Bắc những ngày xuân, các đôi trai gái sẽ thổi đàn môi đối đáp để bày tỏ tình cảm, từ đó hiểu nhau và tiến xa hơn.

Thật cảm động làm sao! Tình yêu con người nảy sinh từ tiếng đàn môi ấy, nay lại cũng vì tiếng đàn mà hồi sinh!

Tiếng đàn môi xuất hiện trong tác phẩm khiến cho truyện thơ mang đậm phong vị của núi rừng Tây Bắc, phảng phất ý vị tâm hồn người Thái mơ mộng, dạt dào yêu thương! Dấu ấn văn hóa đặc trưng đó chính là một sức hấp dẫn khó có thể cưỡng lại của các tác phẩm văn học.

Kết thúc theo hướng đoàn viên là kết thúc có hậu – ít ra là có hậu so với những kết thúc truyện thơ mà đôi tình nhân phải chết. Thế nhưng vẫn còn rất nhiều ý kiến băn khoăn trước số phận của người vợ cả của anh yêu. Liệu rằng trả người vợ cả về nhà mẹ đẻ để nối lại duyên xưa, có thật sự là cái kết hạnh phúc? Chúng ta đều đồng ý rằng: Không thể có một hạnh phúc trọn vẹn nếu hạnh phúc đó xây dựng trên đau khổ của người khác.

Rõ ràng người vợ cả đã van nài để được ở lại, dù là vợ lẽ cũng cam lòng:
“Đừng giũ em như giũ chỉ
Đừng vứt em như khách vứt tàu dong!
Xin giã gạo đổi chày
Xin phơi thóc đỡ tay
Anh đã có kiềng, xin làm gạch cạnh
Anh gặp lại người yêu, em xin được làm vỡ lẽ!
Xin được làm vỡ lẽ đỡ đầu roi
Con đòi đỡ chuôi kiếm
Làm đầy tớ gánhc ám
Làm đứa ở gánh rượu
Làm kẻ hầu múc nước rửa chân cho vợ anh
Sầy thóc xin ăn nhờ
Dầu phận thiếp nằm rùa cũng cam!”

Trước những lời lẽ thống thiết ấy, thử hỏi sắt đá thế nào mà có thể không mủi lòng? Thế nhưng cái sắt đá của “anh yêu” cũng có lí do của nó. Để ý kĩ, lời van xin của người vợ cả có thống thiết, nhưng lại hạ mình thái quá. Vốn danh nghiã là vợ, thế mà giờ xin làm vợ lẽ, tự nguyện làm lụng phục vụ vợ anh, tự nguyện nhận đòn roi, ăn thì ăn nhờ, và cuối cùng nhận mình là “đầy tớ”, “kẻ hầu”! Con người ấy trở ở lại làm kẻ hầu, thì có thể hạnh phúc được không?

Nếu tinh ý, ta sẽ nhận thấy cái cảnh mà người vợ cả cam chịu để được ở lại, cũng ê chề đau khổ không kém gì hoàn cảnh của “em yêu năm xưa”.

Em yêu năm xưa cũng nhận những đòn đau đớn, người vợ cả giờ đây cũng “xin là vỡ lẽ đỡ đầu roi”.

Em yêu năm xưa cô độc trong chính nhà chồng, làm quần quật với biết bao tủi nhục, người vợ cả giờ đây cũng “xin giã gạo đổi chày/ xin phơi thóc đỡ tay”, “làm đầy tớ gánh cám/làm đứa ở gánh rượu”.

Em yêu năm xưa đến cái ăn, cái mặc cũng cực nhục, vậy mà nay người vợ cả “sẩy cơm xin ăn nhờ” – ê chề biết nhường nào?

Dường như ở số phận hai người phụ nữ ấy có sự chiếu ứng trong nhau, điều này cũng hợp lý, bởi họ cùng sống trong một xã hội, đó là xã hội của những hủ tục, đó là xã hội coi trọng đồng tiền, chẳng trách số phận của họ cũng có những bất hạnh chung. Nguyễn Du chẳng phải đã từng cất lên tiếng xé lòng:

“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung?”
Sự khác biệt giữa hai số phận ấy, đó là đối với em yêu, cái khổ là chuyện đã rồi, là chuyện của thì quá khứ. Còn đối với người vợ cả, cái khổ là thì tương lai, hơn nữa lại là những gì cô ta mong muốn.

Ở vị trí của anh yêu, liệu rằng anh có nhẫn tâm chấp nhận người vợ cả phải chịu những cực nhục đó, bởi anh đã quá hiểu nó khổ thế nào, nó nhục thế nào những tháng ngày năm xưa anh chăm sóc em yêu ở nhà chồng em yêu.

Như vậy, bề ngoài tưởng lạnh lùng, tưởng hạnh phúc xây dựng trên bất hạnh của cô vợ cả, nhưng thực chất kết thúc ở đây, ngoài ý nghĩa hạnh phúc đoàn viên của đôi nhân vật chính, nó còn có ý nghĩa giải phóng con người, cụ thể là người phụ nữ, khỏi những hà khắc đau đớn do xã hội của những phong tục cổ hủ mang lại.

Nếu em yêu về nhà mẹ đẻ trong đòn roi, đánh đập, thì người vợ cả trở về nhà mẹ đẻ rất trang trọng, đường hoàng:
“Chồng em sắp của và mười hai tấm khăn
Đồ đạc trong nhà chia đều hai phần
Chia ngựa, chia cả yên lẫn nhạc
Đã thương nhau, lụa là vải vóc chia đôi
Áo mặc vào người xẻ nửa”
“Trông ra thấy hoa đào cài búi tóc
Mặt gối thêu hoa chợ
Tà ảo mổ đuôi cá
Khăn piêu đen thấp thoáng tỏa đuôi voi
Người đi rồi chẳng bao giờ còn quay lại”
Và cô cũng tìm được tình yêu đích thực của mình, có cuộc sống hạnh phúc:
“Còn như phận người vợ bỏ
Trở về nhà cũ mẹ cha
Lấy được chồng êm ấm thuận hòa
Sau cũng được quyền to chức lớn”
Như vậy kết thúc quả là rất có hậu. Nó có hậu không chỉ vì các nhân vật được đoàn viên, hạnh phúc, mà nó có hậu còn vì nó đã truyền đạt được thông điệp phản phong mạnh mẽ, cất lên tiếng nói đòi quyền tự do cá nhân, đòi quyền hạnh phúc cho con ngườimột cách quyết liệt. Có thể sẽ không sai khi cho rằng, kết thúc này chính là chiến thắng của khát vọng hạnh phúc, của ước mơ công lý trước những thế lực xã hội hà khắc, cổ hủ chà đạp lên con người.

TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU: KHÚC CA CỦA TÌNH YÊU THỦY CHUNG, SON SẮT




Tình yêu luôn là đề tài muôn thưở của văn học, đối với truyện thơ, tình yêu là một đề tài lớn và quan trọng. Xống chụ xon xao của dân tộc Thái chính là khúc ca ca ngợi tình yêu chân chính, đậm sâu. Thông qua chặng đường gian nan khó khăn của đôi trẻ với tình yêu định mệnh, vượt qua bao khó khăn trắc trở, vượt qua định kiến xã hội và những hủ tục ngăn các để đoàn viên và giành lại hạnh phúc, câu chuyện tình yêu của đôi trai trẻ thể hiện một nhân sinh quan tích cực của nhân dân, đồng thời thể hiện niềm tin vào hạnh phúc.
Tình yêu của đôi trai gái là một tình yêu thủy chung, son sắt. Với họ, yêu thương là gắn kết, với họ, một khi yêu là tầm hồn mình gắn bó với tâm hồn người thương, tuy hai mà một, mãi mãi không chia lìa. Khi làm lụng trên nương, người con gái gọi vía người thương:
“Vía anh yêu đừng nằm bên gốc lau
Đừng ngủ sau gốc sậy
Hỡi vía anh yêu, về nhà theo mau”
Khi chàng trai ở trong rừng, cũng tha thiết nhớ người yêu mà gọi vía:
Dạ bồn chồn như làm ruộng cuối vụ
Cấy ngày kia mà gieo mạ bữa mai
Anh nhớ mong em không cạn không nguôi
Vào đồi rậm rừng quang hú gọi
-Vía em yêu hỡi
Khi chờ chàng vò võ, thì trong lòng em yêu:
“Người đi xa nhưng vía cuốn không rời
Dây trầu không đã vượt cỏ leo giàn”
Tín ngưỡng người Thái cho rằng mỗi một con người có năm chục vía đằng trướ và ba chục vía đằng sau. Vía đằng sau thường hay bị lạc, nếu đã có người yêu thì vía thường hay tìm đến, phiêu du cùng vía bạn. Như vậy, dù không gian nào, dù thời gian nào, thì tâm hồn họ vẫn hướng về nhau, hai trái tim chung một nhịp đập. Tưởng như họ đã thành một phần máu thịt trong nhau, mãi mãi không bao giờ tách rời.
Cảm xúc yêu đương bao giờ cũng là những cảm xúc mãnh liệt nhất, tha thiết nhất:
“Anh yêu em, lời ước nguyền kia vẫn nhớ
Nhớ chắc chắn như con nhặt tấm
Nhớ khăng khăng tình són ắt  òn đeo
Như xôi bỏng bọc lá tươi
Lá tươi bọc lá tươi càn gnóng
Ước mong tha thiết càng nồng”
Yêu đương gắn liền với khao khát, đặt vào hoàn cảnh đôi lứa trong truyện, khao khát đi liền với đắng cay, chua xót:
“Bạn tình hỡi, người yêu anh ơi!
Khác nào hoa tươi đỉnh núi
Mắt nhìn, tay vươn chẳng tới”
Cảnh đợi chờ trong tình yêu thì vò võ, dai dẳng:
“Em vẫn ngồi cạnh thang em đợi
Em vẫn ngồi đầu cối em mong
Đợi anh về, vò võ ngóng trông”
Tình yêu trong Xống chụ xon xao là tình yêu phải trải qua vàng thử lửa, phải chịu đựng bao đớn đau, thử thách, bao nghiệt ngã, trớ trêu của số phận. Trong nỗi đau tận cùng, đôi lứa yêu nhau đã cất lên những tuyên ngôn tình yêu mạnh mẽ, thể hiện sự trường tồn vĩnh cửu của tình yêu:
“Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông
Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già”
Hai câu thơ trên có lẽ là hai câu thơ được người đời ghi nhớ nhiều nhất. Hai câu thơ sóng đôi, ngắn gọn, nhưng thu vào trong đó là thời gian của cả một đời người, mùa hạ, mùa đông thời trẻ, khi góa bụa về già – cả một đời người tưởng dài lâu nhưng chỉ là trong thoáng chốc. Chỉ có tình yêu và quyết tâm của tình yêu là còn lại mãi mãi. “Không lấy nhau… ta sẽ lấy nhau… không lấy nhau… ta sẽ lấy nhau”. Và đến cuối cùng, họ tin rằng họ sẽ tìm được đến nhau, trở về bên nhau. Họ quyết tâm trở về bên nhau.
Hai câu thơ trên gợi ta nhớ đến câu danh ngôn của Kawabata yasunari: “Tuổi trẻ có tình yêu, tuổi già có cái chết, tuổi trẻ đến một lần, tình yêu đến hoài hoài”. Cả cuộc đời con người trôi qua trong thoáng chốc, tuổi trẻ, tuổi giả, cái chết, đó là con đường một chiều của đời người, rồi tất cả thành hư không, tất cả thành cát bụi. Vậy điều gì còn lại mãi mãi, vậy điều gì là có ý nghĩa trong cuộc đời mỗi con người? Chính là tình yêu – thứ tình yêu trong sáng nhất thanh khiết nhất vượt lên trên mọi dục vọng ham muốn tầm thường của con người. Thứ tình yêu mà dù tuổi trẻ hay tuổi già, dù rạo rực xuân xanh hay thâm trầm năm tháng, thì vẫn mãi nguyên vẹn, vẫn mãi đậm sâu. Đó là tình yêu đích thực.
Để mình chứng cho tuyên ngôn tình yêu của mình, họ nguyện lấy cái chết ra để hẹn thề.
Ngay khi tiễn người yêu về nhà chồng, trong lòng anh yêu đã có ý niệm về cái chết:
“Xin hãy cho anh kề vóc mảnh
Cuốn quanh vai ủ lấy hương người
Cho mai sau lửa xác đượm hơi
Một phút bên em thay lời tiễn dặn”
Đoạn thơ gắn liền với tục mai táng của người Thái. Người Thái quan niệm rằng, để người đã khuất an nghỉ, cần phải hỏa táng họ với đồ vật của người mà người đã khuất yêu thương nhất. Như vậy, người đã khuất sẽ về cõi vĩnh hằng trong tình yêu, về với cõi trường cửu trong hơi ấm của người thương. Ngay khi tiễn biệt anh yêu đã xin người tình ôm thật chặt để lưu lại hơi, để để dành hơi ấm cho cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời mình về bên kia thế giới, đã cho thấy được tình cảm sâu đậm của anh. Từ giây phút này cho đến mãi mãi về sau, tâm hồn anh, cuộc đời anh, trái tim anh, tình yêu của anh duy nhất và chỉ duy nhất thuộc về một người, người mà anh sẽ mang hơi theo khi trở về cõi chết, mãi mãi. Như vậy ở đây, ý niệm về cái chết không gắn liền với ý muốn từ bỏ thế giới, mà đó là sự xác định lại giá trị của cuộc sống. Cuộc sống suốt phần đời còn lại, người con trai đã biết được điều gì là quan trọng nhất với mình, người nào là quan trọng nhất với mình.
Không có được người yêu, anh nguyện chết:
“Chết trong lòng người đẹp
Chết trong lòng người yêu
Được chết cùng em không hề tiếc hận”
Cái chết được dùng để làm minh chứng cho tình yêu, khẳng định sự trường tồn bất tử của tình yêu:
“Chết ba năm hình còn treo đó
Chết thành sông vục nước uống mát lòng
Chết thành đất mọc dây trầu xanh thắm
Chết thành bèo ta trôi nổi ao chung
Chết thành muôi ta múc xuống cùng bát
Chết thành hồn, chung một mái, song song”
Đoạn thơ gắn liền với quan niệm về thế giới ma và hồn của người Thái. Vạn vật đều có hồn, hồn không bao giờ mất đi, mà chỉ biến đổi từ sự vật hiện tượng này thành sự vật hiện tượng khác. Và tình yêu, cũng sẽ bất tử cùng với hồn đó, dù bị hủy hoại nhưng không thể bị tiêu diệt, sẽ mãi mãi hồi sinh. Phép điệp cấu trúc “Chết thành … chết thành… chết thành…” cùng hệ thống những hình ảnh thành đôi, thành cặp đã tạo cho đoạn thơ một âm hưởng dõng dạc, mãnh liệt, khẳng định quyết liệt sức sống vĩnh cửu của tình yêu.
Cái chết là điểm cuối cùng của sự sống, cái chết làm cho cuộc đời của con người hữu hạn. Chỉ khi sống trong một thời gian hữu hạn, con người mới nảy sinh nhận thức về những giá trị của cuộc sống, mới có khao khát được sống trọn vẹn trong những giá trị vững bền, trường tồn và loại bỏ những giá trị nhất thời, phù phiếm. Chính sự hữu hạn của đời người làm cho đời người có ý nghĩa. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên, càng gần cái chết người ta càng nhìn thấy rõ hơn và biết trân quý hơn những điều tốt đẹp của cuộc đời. Vì lẽ đó, cũng không khó hiểu khi cái chết chính là minh chứng sắt đá nhất, hùng hồn nhất cho tình yêu – giá trị vĩnh hằng của đời sống. Văn học thế giới cũng không ít những trường hợp dùng cái chết để chứng minh sự trường tồn vĩnh cửu của tình yêu: Romeo và Juliet, Lương Sơn Bá – Trúc Anh Đài… tất cả tình yêu đó đều trở nên trường tồn cùng thời gian và trong lòng nhân loại.
Trong trường hợp của truyện thơ Xống chụ xon xao cũng vậy, cái chết không phải là sự phủ định của đời sống, mà trái lại là khẳng định những giá trị tốt đẹp của đời sống, khẳng định sức sống trường tồn bất diệt của tình yêu.
Tình yêu của đôi trai gái trong truyện thơ Xống chụ xon xao còn là tình yêu giàu đức hy sinh. Khi người con gái có con với chồng, người con trai vẫn yêu thương nàng hết mực, thậm chí yêu cả con nàng:
“Con nhỏ đưa anh ẵm
Bé xinh đưa anh bồng
Cho anh bế con dòng đừng ngượng
Nựng con rồng con phượng đừng buồn”
Cách gọi con dòng, con rồng, con phượng thật trìu mến, yêu thương. Trong tình yêu, ai mà không ghen? Vượt qua được những nhỏ nhoi toan tính trong tình yêu, thì người tình đó phải cao thượng, phải bản lĩnh biết nhường nào. Trường hợp này cũng giống như bài ca dao tình yêu của dân tộc Kinh:
Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ, thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước rửa cho con mình.
Bài ca dao cũng có chút trách móc, nhưng kết lại ở một hành động thật cao thượng, thật bao dung. Giá trị vững bền của tình yêu nằm ở chỗ đó: biết tha thứ và biết sống cho nhau.
Trong suốt những tháng ngày ở nhà chồng, cô gái đã bị hành hạ, bị đánh rất tàn nhẫn, chính chàng trai là người chăm sóc cô, an ủi cô, vỗ về cô, tiếp cho cô thêm sức mạnh để vượt qua tất cả:
“Dậy đi em, dậy đi em ơi!
Dậy rũ áo kẻo bọ
Dậy phủi áo kẻo lấm
Đầu bù đưa anh chải cho
Tóc rối đưa anh búi hộ
Anh chặt tre về đốt gióng đầu
Chặt tre dày, anh hun gióng giữa
Lam ống thuốc này em uống khỏi đau”
Trong đau đớn, tủi nhục, họ vẫn nuôi hy vọng về một ngày có thể đoàn tụ bên nhau (Mà nếu thiếu đi hy vọng đó, có lẽ mãi mãi sẽ không có đoạn kết hạnh phúc):
“Tơ rối đôi ta cùng gỡ
Tơ vò ta vuốt lại quay guồng
Quay lại guồng gỗ tốt, cán thuôn
Về với người ta thương thuở cũ”
Trong đau đớn, tình yêu giúp họ kiên cường:
“Hỡi gốc dưa yêu mọc ngoài cồn cát
Nước ngập gốc đáng lụi, đừng lụi
Nước ngập rễ đáng bềnh, đừng bềnh
Đôi ta yêu nhau tình Lú-Ủa mặn nồng
Lời đã trao thương không lạc mất”
Tình yêu đích thực là như vậy, không đơn thuần chỉ là cảm xúc, vì cảm xúc mạnh mẽ nhường nào rồi cũng sẽ có lúc qua đi, tình yêu là sự gắn bó, tình yêu là sức mạnh là động lực để con người ta vượt qua gian khổ của cuộc sống. Hay nói cách khác, tình yêu đích thực là tình yêu cho ta ý nghĩa sống, và cho ta sức mạnh để sống.
Tình yêu trong Xống chụ xon xao quả là một tình yêu tích cực, nó đã tiếp cho con người sức mạnh để vượt qua nghịch cảnh. Đó chính là thái độ tích cực của nhân vật nam, khi quyết chí làm ăn thay đổi cuộc đời, để chờ ngày trở về đi tìm hạnh phúc. Khi hỏi cưới người yêu không được chấp nhận, anh đã quyết tâm lập nghiệp:
“Anh tủi mới đi Lào
Anh cầm sào bởi nghĩ đau lòng phận khó
Mới đem túi xuống nàh đi buôn
Đi buôn, buôn sắt Lào
Đi bán, bán lưỡi mai
Quanh khắp tời, tìm sắt Tông Puốn
TÌm sắt, được sắt Tông Puốn bền sắc
Chọn mai, chọn mai lòng máng tốt của Lào”
Đi về đã muộn, chăm sóc người anh, anh lại quyết chí ra đi:
“Gió thốc sông Đà quằn quại
Chúc gã trai buôn mạnh khỏe yên lành
Tàu dong nhỏ nghiêng xuôi dốc núi
Anh ngắt dong đắp suối ba dòng”
Tình yêu của họ đã thắp lên cho họ tia hy vọng, để họ có thái độ sống tích cực. Sự vận động của văn học luôn đi từ chỗ coi con người là nạn nhân của hoàn cảnh đến chỗ nhìn thấy khả năng thay đổi hoàn cảnh ở con người. Chỉ khi nhìn thấy khả năng thay đổi hoàn cảnh ở con người, văn học mới có thể giải quyết bi kịch để đến với kết cục hạnh phúc (mà không phải nhờ vào thế lực siêu nhân siêu hình nào). Thông điệp tình yêu ở đây thật đúng đắn, thật tích cực: Tình yêu cần được thể hiện bằng hành động cụ thể, cần phải xây đắp trên nền tảng tương lai bền vững. Tình yêu chỉ có thể vững bền khi con người có thể giải phóng mình khỏi các ràng buộc, khi con người đạt được tự do và làm chủ cuộc sống của chính mình. Để làm được điều đó, rất cần lòng kiên trì, rất cần sự quyết tâm, rất cần nhiều chịu đựng. Yêu nhau không nhất thiết phải ngày ngày giờ giờ ở bên nhau (dù trái tim luôn khao khát hướng về nhau), tình yêu đích thực là khi ta có thể cùng nhìn về một hướng, khi cần biết chấp nhận sống xa nhau để cùng xây đắp hạnh phúc của nhau.
Mỗi câu chuyện tình yêu đều để lại trong ta một dư vị riêng, một bài học riêng. Câu chuyện tình Xống chụ xon xao gửi cho ta một bài học thực tế và tích cực về tình yêu, về cách ứng xử trưởng thành trong tình yêu.