Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN TỪ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGÔN TỪ. Hiển thị tất cả bài đăng

NGÔN TỪ - CHẤT LIỆU CỦA VĂN HỌC




I.                   Thế nào là chất liệu nghệ thuật, đặc điểm của chất liệu nghệ thuật.
-          Chất liệu nghệ thuật là yếu tố vật liệu, vật chất hàng đầu và cốt yếu nhất được dùng để làm nên tác phẩm văn học, tức là thể hiện ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ. Ví dụ: âm thanh cho âm nhạc, màu sắc đường nét hình khối cho hội họa và ngôn từ cho văn học…
-          Nhờ chất liệu nghệ thuật, nghệ sĩ mới khách thể hóa được các hình tượng hình thành trong trí tưởng tượng của mình, tạo cho chúng một vỏ ngôn ngữ (ngôn ngữ nghệ thuật). Việc nghệ sĩ phụ thuộc và chất liệu nghệ thuật trong sáng tạo thể hiện ở chỗ anh ta không thể không tính đến những đặc tính, những khả năng, tính quy luật vốn có của các chất liệu được sử dụng.
-          Các tác phẩm nghệ thuật vốn là những thực thể tinh thần, chúng chỉ tồn tại trong các chất liệu, thông qua các chất liệu chứ bản thân nó không phải một khối chất liệu nghệ thuật. Chất liệu nghệ thuật chỉ là sự khách thể hóa cái thực thể tinh thần, tức tác phẩm nghệ thuật, để công chúng có thể đón nhận nó.
-          Việc tìm ra cách xử lí mới đối với chất liệu nghệ thuật tạo ra các thủ pháp, phong cách, các trường phái, thể loại khác nhau trong nghệ thuật.
II.                Khái niệm ngôn từ.
-          Ngôn từ là lời nói được sử dụng với tất cả các phẩm chất thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật của nó.
-          Do ngôn từ và lời nói vốn lấy câu làm cơ sở nên nó tương ứng với hình thức tạo hình và biểu hiện trong văn học, ứng với sự phản ánh các tương quan, quan hệ của đời sống hiện đại. Thông thường, người ta nói đến chất liệu của văn học là nói đến ngôn ngữ. Đó là nói thêo tập quán có trước phân biệt khoa học, nhưng không phải là sai. Tuy nhiên muốn chính xác phải gọi chất liệu đó là lời nói, bởi vì không phải từ vựng trong ýnghĩa từ điển hay các ý nghĩa về ngữ âm ngữ pháp, tư từ tạo thành chất liệu của hình tượng văn học. Ngôn từ của văn học đa dạng hơn, đó là câu, sự kết hợp các từ và ngữ tạo thành đơn vị của lời nói, và văn bản, một cấu trúc trên câu có khả năng phản ánh các yếu tố hiện thực trong mối liên hệ, tương quan lẫn nhau. Từ trong các quan hệ đó, các tiềm năng thẩm mý của từ mới phát huy đầy đủ. Nói văn học là nghệ thuật ngôn từ thực chất là nói văn học là nghệ thuật sử dụng câu văn, lời văn, bài văn vào mục đích nghệ thuật.
III.             Tính hình tượng của ngôn từ
-          Khả năng nghệ thuật của ngôn từ thể hiện ở tính hình tượng của nó.
-          Tính hình tượng là gì?
o   Tính hình tượng là cái khả năng gợi những hình tượng nghệ thuật, đưa ta thâm nhập vào thế giới của cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng mà ngôn ngữ thông thường ít khi đạt được.
-          Biểu hiện của tính hình tượng là gì?
o   Các loại từ “hình tượng”: tượng thanh, tượng hình, mô tả trạng thái, cảm giác…
o   Phương thức chuyển nghĩa của từ: ví von, ẩn dụ, hoán dụ è Khả năng của ngôn từ trong việc soi sáng một vật này lên một vật khác.
o   Thể hiện hiện thực cuộc sống: bất kì lời nói, lời viết nào cũng có thể xem như là một chi tiết của cuộc sống, bộc lộ những bản chất sâu kín của đời sống khác với nội dung trực tiếp của lời nói. èChất liệu ngôn từ không phải là yếu tố hình thức thuần túy mà còn màng yếu tố nội dung
§  VÍ dụ: Nhân vật hoàng đọc Tam quốc chí diễn nghĩa đến chỗ khoái chí liền vỗ đùi kêu lên: “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo” è  Quan niệm sùng bài cá nhân trong lịch sử.
o   Thể hiện đặc tính chủ thể lời nói: Ngôn từ có khả năng thể hiện nhiều mặt của chủ thế lời nói èTa có thể nhận ra hình tượng nhân vật hay hình tượng người kể chuyện èĐó là khả năng nghệ thuật của ngônt ừ xét như một phương tiện biểu đạt và như một đối tượng miêu tả.

ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT




1)                  Tính phi vật thể của hình tượng văn học
-                      Thế nào là tính phi vật thể của hình tượng văn học?
o        Xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, hình tượng văn học tác động vào trí tuệ tưởng tượng và tâm hồn của người đọc. Không ai nhìn thấy hình tượng văn học bằng mắt thường. Nó chỉ bộc lộ qua cái “nhìn” bên trong thầm kín. Đó là tính chất tinh thần hay tính “phi vật thể của hình tượng văn học”.
-                      Tác dụng của tính “phi vật thể”:
o        Nhờ tính phi vật thể, hình tượng văn học có thể tác động trực tiếp vào thế giới tâm hồn của con người.
o        Nhờ tính phi vật thể của chất liệu ngôn từ, hình tượng văn học có thể trở thành phương tiện vạn năng để chiếm lĩnh thế giới.
§     Hình tượng văn học có thẻ tái hiện những điều nhận biết bằng thị giác như hội họa, điện ảnh, mà còn có thể tái hiện cả những điều cảm thấy bằng khứu giác, xúc giác, vị giác. Các nghệ thuật khác chỉ có thể biểu hiện chúng còn văn học có thể gọi đích danh chúng ra.
§     Chỉ cần thể hiện tác động của sự vật vào con người hoặc vào cảm xúc của con người mà có thể tạo nên bức tranh cụ thể sinh động về hiện thực, không cần phải miêu tả tỉ mỉ vẻ ngoài của chíng.
o        Nhờ tính phi vật thể của chất liệu ngôn từ, văn học có thể nắm bắt cả những cái mơ hồ vô hình nhưng có thật trong cảm xúc của con người về thế giới. Đó là những cảm xúc, những suy tư, những trăn trở, cũng có thể là những liên tưởng tưởng tượng,có thể là thế giới của ước mơ, của khát vọng…
o        Tính phi vật thể của ngôn từ giúp văn học thể hiện nguyên tắc thể hiện chỉnh thể qua chi tiết.
§     Giữa chi tiết và chỉnh thể hình tượng thường dành một khoảng không cho trí tưởng tượng hoạt động. Có thể nói trí lực con người có thể chiếm lấy thế giới tới mức nào thì hình tượng văn học có thể đạt tới mức ấy.
2)                  Không gian và thời gian trong văn học
a)                  Thời gian trong văn học
-                      Văn học thuộc loại nghệ thuật thời gian, nghĩa là hình tượng của nó mở dần ra trong thời gian, khác hẳn các loại nghệ thuật tạo hình khác. Létxting nói: “Các vật thể và màu sắc tồn tại trong không gian làm phương tiện hay kí hiệu, còn thơ ca sử dụng các âm thanh phát ra từng tiếng lần lượg trong thời gian”.
-                      Các đặc điểm của thời gian trong văn học: Văn học có khẳ năng tạo được những dòng thời gian có nhịp độ, độ dài riêng để phản ánh hiện thực.
o        Văn học có thể “kéo căng thời gian” bằng cách miêu tả chi tiết những phút giây hệ trọng của con người.
o        Văn học có thể “dồn nén thời gian” bằng cách tái hiện một khoảng thời gian dài trong một dòng trần thuật ngắn.
o        Văn học có thể làm thời gian trôi nhanh hay chậm, biến động, căng thẳng hay đều đặn êm đềm.
o        Văn học có thể tạo ra những liên hệ thời gian giữa quá khứ, thực tại, tương lai: Có thể đi cùng chiều thời gian, đi ngược chiều thời gian, về quá khứ, đến tương lai…
ð    Vấn đề không chỉ là sự tương đồng giữa ngôn từ trần thuật với dòng thời gian khách quan, mà còn là sự tương quan giữa dòng thời gian gian cảm thụ, tương quan giữa các lớp, các giai đoạn khác nhau của hiện thực.
b)                 Không gian trong văn học.
-                      Không gian trong văn học có cái đặc sắc riêng. Không thể tái hiện đời sống mà không dựng lại địa điểm, nơi nhân vật sống, hành động hoặc những chân trời mà nhân vật mơ ước
-                      Không gian trong văn học không bị một hạn chế nào. Trong thơ văn, con mắt tác gả có thể dễ dàng di chuyển từ không gian này sang không gian khác. Đặc điểm này giúp cho văn học có thể phản ánh hiện thực trong cái toàn vẹn đầy đặn của nó.
c)                  Đặc trưng nghệ thuật của thời gian và không gian trong văn học
-                      Đặc trưng nghệ thuật của không gian và thời gian trong văn học chính là tính quan niệm của chúng. Nhà văn không chỉ đơn thuần dựng lại một chuỗi sự kiện hay một không gian trong hiện thực mà còn đề xuất một quan niệm để khái quát chúng. Không gian và thời gian nghệ thuật thể hiện khả năng chiếm lĩnh đời sống rộng rãi và nhiều mặt của ngôn ngữ.
3)                  Khả năng phản ánh ngôn ngữ và tư tưởng của hình tượng văn học.
a)                  Khả năng phản ánh ngôn ngữ của hình tượng văn học
-                      Văn bản tác phẩm văn học bao giờ cũng là một hệ thống gồm nhiều lời phát ngôn của nhân vật trữ tình, của người kể truyện, của nhân vật trong truyện. Như vậy, ngôn từ không chỉ là phương tiện miêu tả mà còn là đối tượng miêu tả của văn học.
-                      Phạm vi miêu tả văn học không chỉ ở phần có lời, nhưng riêng ở phần có lời đã là một đặc điểm vô song. Văn học có thể cho ta nghe thấy tiếng nói của mọi tầng lớp trong mọi thời đại khác nhau, “thời đại nào tiếng  nói ấy, tính cách nào giọng điệu ấy”. Văn học giữ lại lời nói, từ vựng, ngữ điệu, cách nói gắn với văn hóa, phong tục, đời sống tư tưởng tình cảm của một thời.
-                      Gắn liền với hoạt động nói là hoạt động tư duy. Văn học có thể dựng lại con người đang tư duy (Độc thoại nội tâm). Nếu các nghệ thuật khác chỉ có thể biểu hiện được con người tư duy chứ không thể thể hiện quá trình tư duy, thì văn học thể hiện những con người với những quá trình tư duy trong cuộc sống: những quyết định lớn lao, những tính toán, nhưng do dự ngập ngừng, những suy nghĩ tỉnh táo cũng như mơ hồ…
b)                 Khả năng tại hiện tư tưởng của hình tượng văn học
-                      Khả năng tại hiện ngôn ngữ và tư duy của con người chính là cơ sở của khả năng tái hiện tư tưởng của con người.
-                      Văn học không chỉ bộc lộ tư tưởng mà còn miêu tả tư tưởng. Nhà văn khắc họa tư tưởng của những nhân vật như là sự ý thức về địa vị, hoàn cảnh và số phận của họ trong xã hội. Mỗi lời nói, ý nghĩ của nhân vật đều là sự ủng hộ hay phản đối về một thực trạng của con người, xã hội.
-                      Văn học thể hiện tư tưởng của thời đại qua chân dung con người của thời đại. Những tư tưởng miêu tả có thể ở những nội dung khác nhau (chính trị, kinh tế, tâm lý, đạo đức, thẩm mỹ…) nhưng bao giờ cũng là một thái độ xác định trước cuộc sống.
-                      Về bản chất, văn học là một cuộc đối thoại ngầm hay công khai về tư tưởng trong ý nghĩa đích thực của từ đó. Văn học có khả năng miêu tả tư tưởng và những xung đột tư tưởng. Điều này làm cho tính tư tưởng của văn học trở nên sắcbén hơn, nổi bật hơn.
4)                   Tính vạn năng và tính phổ thông của văn học
a)                  Tính vạn năng
-                      Lấy ngôn từ làm chất liệu văn học đạt được tính vạn năng trong phản ánh đời sống.
-                      Văn học có thể phản ánh bất kì phương diện nào trong đời sống hiện thực bởi lẽ không có phương diện nào mà ngôn từ không phản ánh được.
-                      Văn học có những khả năng vô hạn tái hiện đời sống và có khả năng thực hiện chức năng nhận thức của nghệ thuật một cách trọn vẹn nhất.
-                      Có những thứ, các môn nghệ thuật khác, do ưu thế chất liệu có thể thể hiện một cách trực tiếp thì văn học chỉ có thể thể hiện một cách gián tiếp, tuy nhiên nhiều hiện tượng đời sống các nghệ thuật khác không biểu hiện được thì văn học lại có thể biểu hiện tài tình.
b)                 Tính phổ thông
-                      Việc lấy ngôn từ, phương tiện giao thế phổ thông của con người làm chất liệu cũng mang lại tính chất phổ thông trên các mặt sáng tác, truyền bá và tiếp nhận.
-                      Văn học có thể xuất bản với số lượn lớn mà vẫn giữ nguyên được bản chính.
-                      Việc tàng trữ tiếp nhận cũng không đòi hỏi quá nhiều phương tiện vật chất.
-                      Người đọc có thể tùy ý chọn đọc nhịp độ nhanh hay chậm, có thể trở đi trở lại nghiền ngẫm những đoạn văn hay (điều này khó lòng đạt được khi xem kịch, xem múa)
-                      Người đọc có thể học thuộc những đoạn văn, thơ hay để đọc và vận dụng trong đời sống.