Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng

Đặc điểm nghệ thuật thơ Tagore




Thơ giàu chất hiện thực là đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật thơ Tagore mà nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến. Nhưng Tagore không phải là nhà thơ hiện thực thuần tuý dù nội dung thơ ca của ông đều phản ánh cuộc đời và sự sống. Nội dung ấy được bọc ngoài một lớp từ ngữ, hình ảnh tượng trưng có tính chất tôn giáo, siêu hình thần bí như Chúa Đời, Thượng đế, Thầy, Người … nhưng những câu chuyện, tình tiết, hình ảnh ông sáng tạo ra đều là những chuyện thực, người thực từng xảy ra trên đất nước Ấn Độ nghèo khổ và đau thương của ông
Đó là nỗi tủi nhục của người đàn bà Jaballah không chồng, là ước mơ nho nhỏ của chú bé cùng đinh, đó là mối tình éo le của nàng công chúa bị lễ giáo Bàla môn hành hạ, tấm lòng cao quí của người hành khất v.v…
Đó còn là chuyện đấu tranh chống tôn giáo, cường quyền bạo ngược, chống chiến tranh và bảo vệ hoà bình.
Nira Chandhuri nhà phê bình văn học Ấn Độ đã nhận xét:”Thơ tôn giáo của Tagore là thơ sùng kính, không phải là thơ thần bí”. Ông khẳng định rằng: một người yêu đời như ông (Tagore) không thể là một người thần bí mà hạnh phúc chỉ có thể tìm thấy trong việc tự phủ nhận mình và phủ nhận cõi đời này ”.
Còn Nadim Hicmet ( 1902 – 1963 ) nhà thơ lớn Thổ Nhĩ Kỳ nhận xét: ” Tôi yêu thơ Tagore và nhạc Bach. Tôi cóc cần cái vẻ thần bí của họ. Tôi biết họ có điểm thần bí, nhưng cái có nhiều nhất là lòng yêu cuộc sống, lòng tin cuộc đời. Vì vậy mà Bach vẫn là rất lớn trong các nhạc sĩ lớn nhất, Tagore vẫn là rất lớn trong các thi sĩ lớn nhất.
Chất trữ tình và tính lãngmạn dồi dào. Thơ ca của Tagore vừa là bản tình ca tuyệt diệu, vừa là bức tranh thiên nhiên tươi màu. Ông thường tạo ra trong thơ nhiều hình ảnh lung linh huyền diệu, nhiều màu sắc tươi mát, biến nỗi khổ đau thành niềm vui kì lạ của đất nước, của con người “tan ra chảy thành tiếng hát trong trái tim thi sĩ ” (Bài 86 – Mùa hái quả ). Về căn bản, Tagore là nhà thơ lãng mạn.
Thiên nhiên là đối tượng được Tagore miêu tả khá nhiều, ông đã để cho thiên nhiên ùa ngập vào trong thơ ca. Tagore vốn là nhà thơ yêu thích thiên nhiên, chủ trương con người hoà đồng với thiên nhiên, với vũ trụ. Người nghệ sĩ là người tình của thiên nhiên và xem thiên nhiên là đối tượng gần gũi như con người “Mỗi chủ thể của thiên nhiên được biểu hiện là hoà trong muôn vàn chủ thể khác, vô hình”, vì vậy ông kêu gọi: ”Nhà thơ ơi, ánh dương đã thấy trong ánh hồng rực cháy mùa xuân Ôi, tôi ghi lại tất cả khi đang cất bước lên đường” (Bài 41- tập Cánh thiên nga).
Tagore là người mẫu mực thực hiện điều đó. Chúng ta sẽ bắt gặp trong thơ ông hình ảnh Himalahya hùng vĩ thách thức mặt trời và không gian vô hạn. Hằng Hà rộng lớn, dài sâu dịu dàng hôn lên những bến bờ, đồng ruộng để bộc lộ lòng yêu nước, yêu quê hương, cuộc sống Ấn Độ. Thơ ca dồi dào màu sắc mỹ lệ của hoa lá cỏ cây, ánh sáng chói chang của mặt trời, ánh trăng vàng êm ả óng chuốt, hoa quả ngọt ngào trĩu cành … Những âm thanh rung động, giục giã lòng người, tiếng sáo du dương, tiếng chim hót líu lo v.v… vang động trong thơ ông. Cũng dễ hiểu tại sao các tác phẩm của ông đều mang tên thiên nhiên Mùa hái quả, Trăng non, Cánh thiên nga, Con chim bay lạc, Vượt biển, Người làm vườn …
Từ ngữ thơ ca Tagore được chọn lọc, điêu luyện và đẹp đẽ, giàu hình ảnh gây cho người đọc nhiều cảm xúc. Đúng như Illia Erenbua (1891 -1967) nhà văn Liên xô đã nhận xét: “Tagore là nhà thơ trữ tình tinh tế vào bậc nhất ” và là “nhà lãng mạn sáng tạo” như Tagore đã tự nhận xét.
Chất trí tuệ
Đây là nét đặc trưng khác bộc lộ trong thơ Tagore là : sự suy tư trăn trở tạo cho thơ dồi dào về từ, hàm súc về ý.
Những hình ảnh sinh động, những mẩu chuyện thâm thuý, những từ ngữ giản dị trong sáng được ông sử dụng để lý giải một cách minh bạch, sâu sắc, đầy sức thuyết phục về triết lí con người cuộc đời và sự sống.
Ông đưa lại cho người đọc một nhận thức đúng đắn về Thượng đế, thiên đường, địa ngục, sự sống và sự chết, đau khổ và hạnh phúc.
Trong thơ ông, không phải bài thơ nào đọc cũng hiểu ngay được, đặc biệt tập THƠ DÂNG, có bài phải đọc nhiều lần mới hiểu. Người đọc phải suy ngẫm, đắm mình vào sự liên tưởng, mơ ước, gây niềm tin mới, làm cho trí tuệ bừng sáng. Nhiều đoạn thơ như ngụ ngôn, cách ngôn có tác dụng giáo dục sâu sắc như trong tập thơ “Những con chim bay lạc ”.
Thủ pháp biểu hiện tượng trưng
Để làm nổi bật những đặc điểm trên đây, Tagore thường vận dụng lối biểu hiện tượng trưng như trong kinh Thánh, kinh Phật, tức là mượn câu chuyện để bày tỏ ý kiến và quan niệm của mình. Ông vận dụng linh hoạt những hình ảnh tôn giáo, kể cả thần thoại truyền thuyết, cổ tích trong văn học cổ để thể hiện nội dung mới. Ông biến thần tượng vô hình trừu tượng thành hình tượng cụ thể. Ông tước bỏ uy quyền của thần tượng để ca ngợi phẩm chất người lao động nghèo, biến thần tượng thành vũ khí chống lại giai cấp bóc lột, chống lại thần thánh như trong bài “Thượng đế là lao động”, “Thánh Norattam (bài 34Mùa hái quả). Ngoài ra, Tagore còn dùng các hình ảnh loài vật, thiên nhiên và ngôn ngữ tượng trưng, ngụ ý.
Chính nhờ vận dụng thủ pháp biểu hiện tượng trưng trên đây mà thơ ca Tagore dễ đi vào lòng người, cả lý trí và tinh cảm. Đó là thủ pháp độc đáo trong nghệ thuật thơ ca lãng mạn Tagore.
Cheliev – nhà Ấn Độ học Liên xô đánh giá Tagore như sau : “Tagore là một tổng hợp thiên tài kì diệu của văn học Ấn Độ, từ Upanisad qua tài liệu Phật giáo đến thơ Kalidasa, kể cả tinh thần nhân đạo thời Trung cổ, cùng với tính chất lãng mạn tiến bộ trong văn học Anh và tinh thần đấu tranh chống đế quốc giành độc lập của nhân dân Ấn Độ”.
Chính vì thế, thơ Tagore “vừa rất dân tộc lại vừa là của chung toàn thế giới “(Nehru). Giá trị thơ ca của Tagore đã khiến cho ông xứng đáng là “ngôi sao sáng Ấn Độ phục hưng” và là “nhà cách tân vĩ đại”. Người ta còn xếp ông là một trong mười nhà thơ lớn nhất thế kỷ XX.


VỀ TÁC PHẨM "THUẬT XỬ THẾ ẤN ĐỘ" (PHẦN 3)



II. Nghệ thuật của Panchatantra
Nghệ thuật
Phân tích
Ví dụ
Miêu tả tâm lí nhân vạat
Đặc sắc, tinh tế, khái quát lên những kiểu ng khác nhau trong xã hội.
Truyện bốn chàng người Bà La Môn đi tìm của cảiè 4 người đại diện cho 3 cách sống è Tâm lý khác nhau: hành động khác nhau: kết cục khác nhau.
Xây dựng hình ảnh mang tính biểu trưng
Các hình tượng ẩn dụ có ý nghĩa biểu trưng sâu sắc
Con chim hai đầu è Mỗi đầu chim tượng trưng cho cá thể người, nhưng cả con chim lại tượng trưng cho xã hội è MỐi quan hệ giữa cái tôi và cái ta, giữa cá nhân và tập thể.
Các câu triết lý sâu sắc có sử dụng biện pháp so sánh, ẩn dụ sống động.
Tăng sức thuyết phục è Chiều sâu tư tưởng của tác phẩm.
 “Trong thế giới này, những người tốt, thủy chung, quảng đại và giàu có, xoa dịu những khổ đau của con người thạt là hiếm hoi, như những cụ m mây bất động trên trờii cao đầy nước và đem lại sự mát mẻ”
“Một người thuộc hạ có thể trở thành thượng thư nếu biết nịnh vua. Một thượng thư cũng có thể trở thành thuộc hạ nếu không biết nịnh bợ”.
“Ba người hái những hoa vàng của trái đất: đó là kẻ dũng cảm, người có học thức, người biết phục vụ”.
“Bầy tôi bỏ một ông vua vì ba lí do: khi bị cư sử như cấp dưới, khi kẻ ngang hàng với anh ta thiếu kính trọng anh, khi anh ta không ở vào chỗ xứng đáng.”

Nghệ thuật xây dựng nhân vật
-Nhân vật đa dạng mọi thành phần: thần, người, động vật…
-Tên, tuổi mang ý nghĩa khái quát tính cách
-Lời thoại nhân vật có hai chức năng: bộc lộ tính cách nhân vật; công cụ cho nghệ thuật truyện lồng truyện (nv dùng lời của mình để kể câu chuyện khác)

-Tên nhân vật mang ý nghĩa:  Quạ và Cú, vua quạ tên có ý nghĩa là “Kéo màu mây” è gợi đến màu lông của loài quạ, cũng như gợi đến tình hình hiện tại của loài quạ là phải trốn tránh kẻ thù, màu mây đen cũng gợi đến điều gì mờ ám è Phương thức mưu mẹo mà vua quạ dùng để thắng cú.
Vua cú có tên là “Đè bẹp kẻ thù” è Thể hiện quyền uy của vua cú, đồng thời thể hiện được ưu thế của loài cú so với loài quạ ở đầu truyện.
Ngôi kể:
Đa số là ngôi thứ 3

Ngôi 1 xuất hiện rất ít (mèo, chim sẻ, thỏ - quyển 3)

Tình huống truyện
Truyện ngắn gọn, tình huống cũng ngắn gọn nhưng độc đáo, bất ngờ, để từ đó bài học bật ra.
Tình huống bất ngờ, tình cờ: chuyện chàng gù, chàng mù, cô gái 3 vú.

Tình huống độc đáo, lập đi lập lại mang tính chất so sánh đối chiếu: chuyện 4 ng Bà La Môn đi tìm của báu è Tình huống gợi đến cốt truyện mang tính chất motif lặp lại của cổ tích.

Có tình huống nghịch lý: người bà là môn và con sư tử. Người tài năng có khả năng hồi sinh sinh vật đã chết è thiếu kiến thức thực tế nên bị nó giết chết. Người bình thường, bị khinh thường, thì lại có kiến thức thực tế nên sống è bài học rú ra: “KHôn cũng chết, dại cũng chết, biêst là không chết”

Tình huống kịch tính: Cuộc chiến sinh tồn một mất một còn của Cú và Quạ.

III. NGHỆ THUẬT TRUYỆN LỒNG KHUNG VÀ TRUYỆN LỒNG TRUYỆN.
a)                Khái niệm
Kiểu truyện khung(frame story hay frame narrative, frame tale) là kiểu truyện mà tác phẩm là một câu chuyện dài có khả năng hàm chứa trong bản thân nhiều truyện kể khác được liên kết lại. Một câu chuyện có mở đầu và kết thúc đóng vai trò là truyện trung tâm (main story) hay còn gọi là truyện nền (basic story) để tạo nên một khung truyện làm cơ sở cho những truyện kể khác có thể kết nối, tập hợp lại với nhau theo cấu trúc truyện lồng truyện để từ đó tạo nên một tác phẩm có dung lượng lớn và nội dung phong phú

Kết cấu truyện lồng truyện ở góc độ một thủ pháp văn chương đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học thế giới. Một cách đơn giản đây là thủ pháp để lồng ghép một câu chuyện độc lập (có liên quan hoặc không về mặt nội dung) vào tác phẩm chính trong quá trình diễn tiến của tác phẩm. Có thể thấy biểu hiện xa xưa của nó trong sử thi Odyssey của Hy Lạp (thế kỷ VIII trước công nguyên) khi người anh hùng Ulysses tự kể lại những chuyện phiêu lưu của mình trong bữa tiệc.

b)                Biểu hiện của truyện lồng khugn và truyện lồng truyện trong Panchatantra
-                     Kết thúc của truyện này, nhân vật sẽ có lời mở đầu và cũng chính nhân vật đó sẽ kể tiếp câu chuyện tiếp theo.
-                     Có những câu chuyện lồng hẳn vào nhau, câu chuyện chính diễn ra một nửa, đến đoạn cao trào, nhân vật trong truyện sẽ kể trọn vẹn câu chuyện thứ 2, kết thúc câu chuyện được kể, các nhân vật trong câu chuyện chính giải quyết mâu thuẫn và tiếp tục lồng vào câu chuyện khác. (truyện Anh thợ gốm và nhà vua, Sư tử cái, sư tử con và chó lang con.)
-                     Câu chuyện phụ có hai chức năng:  về tư cách là một chỉnh thể thẩm mỹ, bản thân nó là một câu chuyện hoàn chỉnh, mang nội dung tư tưởng, nghệ thuật, triết lý sâu xa. Về tư cách là một lời thoại của nhân vật trong câu chuyện chính, đồng thời nó cũng góp phần vào việc thúc đẩy cốt truyện của câu chuyện chính lên cao trào.

c)                 Tác dụng của nghệ thuật truyện lồng khugn và truyện lồng truyện
-                     Trong một dung lượng giới hạn có thể truyền tải một nội dung đời sống rộng lớn, với một lượng tri thức bách khoa giàu có, phong phú. Nếu các tác phẩm truyện thường chỉ có một số lượng nhân vật nhất định, và tất cả các nhân vật này đều phải có liên quan đến nhau, thì truyện lồng khung và truyện lồng truyện cho phép tác phẩm chạm được một số lượng không giới hạn nhân vật, với một phạm vi hiện thực vô cùng rộng lớn, không giới hạn cả về không gian và thời gian. Logic mối quan hệ giữa các câu chuyện cũng rất tinh tế: câu chuyện mà nhân vật này biết, câu chuyện mà nhân vật kia biết. Các nhân vật trong các câu chuyện khác nhau gần như không có mối quan hệ trực tiếp nào, tuy vậy, câu chuyện vẫn logic, cuốn hút.
-                     Góp phần phát huy chức năng của thể loại ngụ ngôn: Dùng những câu chuyện để làm sáng tỏ những lí lẽ, những luận đề triết học è Trí tuệ uyên bác của người Ấn, nghệ thuật hùng biện thông thái, thuyết phục.

VỀ TÁC PHẨM "THUẬT XỬ THẾ ẤN ĐỘ" (PHẦN 2)




III. NỘI DUNG QUYỂN 3 PANCHATANTRA

-                     Quyển 3: Cuộc chiến tranh giữa quạ và cú
-                     Câu Sloka: Đừng tin vào kẻ thù trước đây đã bị đánh bại dù nay đã là bạn.  Hãy nhìn cái hang đầy củ bị quạ đốt ra tro.
-                     Quyển ba chủ yếu đưa ra các triết lí về chiến tranh:

“Phải cầu hòa cả với kẻ ác, nếu nhìn thấy sự chết chóc, vì khi thoát chết là thoát tất cả”
“Với kẻ thù không nên kết làm đồng minh dù đồng minh chặt chẽ đến đâu: nước, dù rất sôi, vẫn dập tắt lửa”
“Có hai cách hành quân: Một là phòng thủ với kẻ đang sợ, hai là hành quân đối với kẻ muốn thắng, cái đó gọi là tấn công”
“Anh nên dùng trò hai mặt, kẻ thù tham lam sẽ không đuổi anh. Hơn nữa,  nếu thấy điểm yếu của nó thì anh sẽ xông tới và giết nó”
ð    Các triết lý về chiến tranh, các binh pháp, kinh nghiệm trong chiến tranh è Thâm sâu, trí tuệ è Nghệ thuật quân sự của người Ấn.
-                     Nghệ thuật truyện lồng truyện có điểm đặc điệt: Một câu chuyện bản thân nó vừa mang ý nghĩa nội dung tư tưởng riêng biệt, nhưng đồng thời nó cũng là một chi tiết góp phần làm nên tình huống quan trọng của mạch truyện lớn (Chuyện quạ kể cho các loài chim khác nghe như Voi và thỏ, Mèo, chi sẻ, và thỏ vừa có nội dung tư tưởng riêng, nhưng đồng thời đó cũng là nguyên do gây ra mối thù giữa quạ và cú.)
-                     Xuất hiện lối kể chuyện theo kết cấu hồi tưởng quá khứ: Hai cha con vua quạ kể cho nhau nghe về lí do mối thâm thù giữa quạ và cú.

IV. NỘI DUNG QUYỂN 4 PANCHATANTRA
Chủ đề
Tác phẩm
Ý nghĩa
Nhan đề “Mất của”: chứng minh rằng, người ta hay mất vì lí do bất cẩn những gì mà mình đã khổ công để thủ đắc được.
Câu sloka: Người ngốc, bị những lời dịu ngọt mà mất sạch tài sản
Người ta hay mất vì lí do bất cẩn
Khỉ và cá sâu

Lạc đà bị sư tử ăn thịt

Khỉ và rắn
-                     Trong “Khỉ và cá sấu”: Trong một phút bất cẩn, khinh địch cá sấu đã lỡ tiết lộ bí mật cho khỉ biết è Không lấy được tim khỉ.
-                     Người Bà La Môn trong “lạc đà bị sư tử ăn thị”, vì bất cẩn, không nghe lời khuyên của người khác, để cho con lạc đà đeo chuông è Con lạc đà bị sư tử phát hiện và ăn thịt.
-                      VÌ cả tin và bất cẩn, rắn đã để ếch thoát è Bị kẹt trong hang dưới giếng cho đến chết.
Có những sự thật đừng dại dột nói ra
Thợ gốm và vua

Lừa đội lốt hổ
-                     “Một tên lường gạt để lộ ra cái mình muốn và dại dột nói ra sự thật, chắc chắn không đạt được mục đích” – lời nhận xét của khỉ về anh chàng thợ gốm trong câu chuyện của mình.
-                     “Dù được được giữ rất bí mật và mang một cái lốt dễ sợ, một con lừa mặc da hổ bị giết vì một tiếng kêu”
Kết bạn với kẻ xấu
Khỉ và cá sấu

Ếch và rắn
-                     Khỉ và ếch đều phạm sai lầm: Kết bạn với kẻ xấu. Khỉ kết bạn với cá sấu vì sự không vụ lợi, vì lòng tốt. Ếch kết bạn với rắn để lợi dụng rắn giết chết đối thủ của mình è Cả hai đều gặp phải những tai họa.
-                     Bài học rút ra: Phải tìm mọi cách để thoát khỏi tên bạn xấu, dù sớm, hay muộn trước khi bản thân bị tiêu diệt.
-                     Cần phải tỉnh táo để chọn bạn.
Vị trí của mỗi người trong cuộc sống
Anh thợ gốm và nhà vua

Sư tử cái, sư tử con và chó lang con.
-                     Mỗi người đều có một vị trí riêng của mình, phù hợp với khả năng của bản thân. Nếu bị rơi vào một môi trường không phù hợp, không dành cho mình, thì sẽ gặp tai họa è Anh thợ gốm ở trong quân ngũ, con chó lang ở trong đàn sư tử.
-                     Nếu lâm phải hoàn cảnh này, phải biết khôn khéo che đây bản thân, và đồng thời phải biết tìm con đường lui cho mình.
-                     Liên hệ cuộc sống: Cần phải biết mình là ai, cư xử cho đúng vai, đúng hoàn cảnh, bộc lộ những gì cần thiết.
Quan điểm của Hindu giá về phụ nữ: phụ nữ là sinh vật tai quái, mang tội lỗi: cá sấu và khỉ, người bà la môn, vợ, và anh tàn tật, vua thượng thư và các bà vợ, người đàn bà và con chó lang
Xây dựng một loạt hình tượng người phụ nữ xấu xa:
-                     Vợ cá sấu thì xui cá sấu giết bạn, người đàn bà trong truyện “người bà la môn, vợ và anh tàn tật” thì phản bội chồng và giết chồng, người đàn bà trong “người đàn bà và con chó lang” ngoại tình.
-                     Bên cạnh hình tượng ng đàn bà xấu, là hình tượng ng đàn ông thảm hại, bị chi phối bởi đàn bà: vị vua, viên thượng thư và các bà vợ. Viên thượng thư vì vợ mà cạo đầu. Vua vì vợ mà giả làm ngựa.
ð    “ở đâu người đàn bà làm chủ, ở đó người ta chỉ ăn chơi,ở đâu một đứa trẻ làm chủ, ở đó sẽ suy sụp”

V.  NỘI DUNG QUYỂN 5 PANCHATANTRA:

Chủ đề
Tác phẩm
Ý nghĩa
Nhan đề: Cách cư xử không thể chấp nhận được – cho thấy tai hại của sự hấp tấp, bất cẩn.
Câu sloka: Một người không được làm một việc gì mà mình không nghĩ kĩ, không hiểu, không nghe, không xem xét tường tận.
Sự hấp tấp, bất cẩ sẽ mang đến tai họa
Gã thợ cạo và những người hành khất
-                     Người thợ cạo, vì lòng tham nên chỉ mới nhìn thấy hiện tượng mà không nắm được bản chất của vấn đề è gây họa cho ng khác và chính mình
-                     NGười hành khất vì tham lam mà bỏ qua những điều luật của đạo, không biết giữ mình è Chết vì chính sự ngu ngốc đó.
Người bà la môn, vợ người bà la môn và con chồn.
-                     Vợ người bà la môn do hấp tấp đã lầm tưởng con chồn giết chết con mình và giết chồn è Nhận ra thì đã quá muộn, đau đớn hối hận cũng không giải quyết được gì.
Trong cuộc sống cần biết tham vọng vừa đủ, và cần biết dừng lại đúng lúc.
Bốn người bà la môn đi tìm sự giàu sang
-                     Người tìm được đồng và bạc đều dừng lại ngay khi tìm thấy mỏ è Họ không có tham vọng lớn hơn, bằng lòng với những gì mình có è Không có được thứ quý giá nhất, nhưng họ cũng không trắng tay è Mẫu người an phận trong xã hội.
-                     Người tìm được vàng è Có tham vọng đạt đến giá trị cao, nhưng biết dừng lại đúng lúc è Có tham vọng và có trí tuệ.
-                     Người bà la môn cuối cùng có tham vọng tìm đến giá trị tối thượng nhưng lại không suy nghĩ đến cái giá phải trả è Chịu hình phạt không gì cứu rỗi được è Bị mờ mắt bởi tham vọng.
-                     Nghệ thuật đặc sắc:
§     kết cấu truyện lặp lại 4 lần với những kết quả khác nhau, tạo sự bất ngờ.
§     Nghệ thuật phân tích lý nhân vật è Đưa ra 3 mẫu người thường thấy trong xã hội è Đưa ra 3 cách ứng xử.
§     Tiểu biểu cho nghệ thuật lồng khung, truyện này chính là câu chuyện chính trong tập 5: cuộc đối thoại của người tìm vàng và người bị phạt nảy sinh nhiều câu chuyện triết lý khác.
Triết lý về “biết”: Người Ấn Độ cho rằng: dạicũng chết, mà khôn cũng chết, chỉ có biết là không chết.

Người bà la môn và con sử tử - Bốn nhà thông thái – Hai con cá và con ếch
Biểu hiện 1: Sự xuất hiện của các nhân vật “thông thái ngu dốt”
-                     Ba người bà la môn có học thức nhưng không thông minh trong truyện “4 ng bà la môn và con sư tử”, bằng học vấn uyên thâm của mình đã hồi sinh lại con sư tử chết mà không nghe theo lời của người em (vốn bị họ coi thường vì không uyên thâm): “Con sư tử sẽ ăn thịt họ” è HỌ bị con sư tử ăn thịt. Ý nghĩa câu chuyện: Kiến thức sách vở uyên thâm, thiếu thực tế, không nghĩ đến hậu quả sẽ làm hại chính bản thân mình.
-                     Bốn nhà thông thái trong câu chuyện “Bốn nhà thông thái”: áp dụng sách vở một cách máy móc vào thực tiễn è Có những hành động ngu ngốc bị người ta chê cười chết giễu, gây hại cho chính bản thân.
-                     Hai con cá trong chuyện “Hai con cá và con ếch” tự nhận mình là thông minh, biết hết mọi ngõ ngách trong ao, nên khi biết tim người ta sẽ tới đánh bắt các động vật ở ao thì chúng chủ quan, không trốn đi è Cái “thông minh” dẫn tới cái chủ quan, khinh địch è Họa sát thân.
Biểu hiện 2: SỰ xuất hiện của những nhân vật không uyên bác nhưng thông minh
-                     “Những người bà la môn và con sư tử”: Người em út tuy không uyên thâm nhưng được đánh giá là thông minh vì trong trường hợp nguy cấp, đã nhận biết được những quy luật giản dị của đời sống: “Con sư tử sẽ ăn thịt người”. è Chỉ biết những điều đơn giản, mà cứu được mạng sống của mình> biết những điều cao siêu, bất chấp hậu quả để rước họa vào thân.
-                     Con ếch trong chuyện “Hai con cá và con ếch”, tuy không nhận mình có tài, nhưng biết được hậu quả sẽ tới, và chuyển đi là cách an toàn nhất è Đã bảo vệ được gia đình mình khỏi họa sát thân.

ð    Cái “biết” ở đây không phải là sự uyên thâm về kiến thức sách vở, mà là sự thấu hiểu các quy luật của đời sống, để từ đó có thể dự báo, nắm bắt các hiện tượng sắp xảy ra mà có cách thích nghi để đảm bảo an toàn cho bản thân.
Trong cuộc sống, sự ngu dốt sẽ làm hại bản thân.
Lừa và chồn

Khỉ và vua.
-                     Lừa chồn: Con lừa là kẻ ngu dốt, tham lam,  tự mãn è Đi ăn chộm dưa mà lại hát to cho chủ ruộng dưa biết, bất chấp lời khuyên răn của con chồn è BỊ bắt và bị trả giá.
-                     Khỉ và vua: Bọn khỉ trong đàn, vì tham lam và ngu ngốc đã không nghe lời khỉ chúa è Họa sát thân. Ông vua vì tham và ngu ngốc, đã đẩy đoàn tùy tùng của mình vào miệng quỷ.
Nhân vật thông minh và uyên bác, biết cách xử thế: Khỉ chúa
Khỉ và vua
-                     Xây dựng nhân vật đặc sắc: Nhờ thông minh và uyên bác mà khỉ chúa đã dự đoán được một cách tài tình và logic cái hiểm họa sẽ ray ra cho giống nòi mình: con sơn dương ăn vụng bị người nhà bếp đánh, người nhà bếp dùng cái cào thanh để đánh, con sơn dương bén lửa nhảy vào chuồng ngựa, ngựa bị bỏng, mỡ khỉ chữa được vết bỏng của ngựa, loài khỉ sẽ bị vua giết è Chuỗi suy luận logic thần tình è Trí tuệ siêu việt là sự kết tinh của kiến thức uyên bác và sự nắm bắt các quy luật đời sống.
-                     Nhờ thông minh mà khỉ chúa đã giúp mình thoát khỏi nanh vuốt của quỷ, và đã trả thù được nhà vua, để lại cho nhà vua bài học đau đớn.
-                     Biết cách ứng xử:  Dòng giống bị sát hại thì phải trả thù, nhưng không giết chủ của mình è Để vua sống với một bài học đau đớn, không thể nào quên được.
ð    Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc và tương đối phức tạp: Câu chuyện diễn ra thành hai chặng rõ rệt, với hai tình huống làm bộc lộ tính cách và trí tuệ nhân vật.
Nếu không có tình đoàn kết con người sẽ diệt vong
Chuyện con chim hai mỏ
HÌnh tượng con chim có hai mỏ là một ẩn dụ độc đáo:  - Hai mỏ của con chim là hai cá thể có suy nghĩ và cảm xúc độc lập, nhưng nó lại phụ thuộc để sống, chịu chung số phận với nhau è Giống như xã hội loài người, con ng là tiểu vũ trụ phức tạp, nhưng lại không thể tồn tại riêng lẻ, mà phải tồn tại thành xã  è Phải làm sao để vừa dung hòa cái cá thể, vừa giữ vững được sự liên kể tập thể.
-                     Cái mỏ chim ăn được đào tiên, vì sự vị kỉ, đã khiến cái mỏ còn lại bất mãn è ăn trái độc để trả thù è Sự vị kỉ, sự cố chấp không mang lại lợi ích gì, mà chỉ mang đến tai họa.