Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Đoan Trang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Đoan Trang. Hiển thị tất cả bài đăng

TỪ LÝ THUYẾT MỸ HỌC TÌM VỀ CÁI HAY CÁI ĐẸP CỦA BÀI THƠ "TRE VIỆT NAM" (NGUYỄN DUY)


NGUYỄN NGỌC ĐOAN TRANG

Cái đẹp trong nghệ thuật là hình thái cao nhất của sự biểu hiện cái đẹp. Văn học là một loại hình nghệ thuật tồn tại dưới dạng tác phẩm thuộc một thể loại xác định. Cái đẹp trong văn học đồng nghĩa với cái hay. Mỗi thể loại, ứng với những tiêu chí chung của một tác phẩm văn học hay, sẽ có những tiêu chí riêng, phù hợp với đặc trưng thể loại, để có thể được gọi là một bài thơ hay, một tiểu thuyết hay, hay một truyện ngắn hay… Do đó, thiết nghĩ việc xác lập một mô hình nhận thức chung, một cái nhìn tổng quát về tiêu chí của một bài thơ hay là hết sức cần thiết, để từ đó có thể soi rọi, nhận diện cái hay, cái đẹp trong bài thơ Tre Việt Nam (Nguyễn Duy).

I. THẾ NÀO LÀ MỘT BÀI THƠ HAY?

I.1. Thơ hay, bằng hình ảnh và nhạc điệu phản ánh chân thực bản chất cuộc sống và tấm lòng thi sĩ

Tính chân thật là phẩm chất hàng đầu của cái đẹp trong nghệ thuật. Với tư cách là nghệ thuật ngôn từ, một tác phẩm văn chương hay, bằng những hình tượng văn học, bằng chất liệu ngôn từ phải phản ánh được bản chất của cuộc sống, của hiện thực, hoặc ít ra là vài phương diện cơ bản của bản chất đó. Ngôn ngữ thơ mang tính tạo hình và tượng thanh cao. Những hình tượng thơ trong một bài thơ hay phải nói lên được những vấn đề cốt lõi của cuộc sống. Thơ ca đặc trưng về tính hình tượng cao, nhưng cho dù tính hìnhtượng có cao đến đâu đi chăng nữa thì một bài thơ hay vẫn phải bắt rễ từ hiện thực cuộc sống, cốt lõi của những biểu tượng ấy vẫn phải là bản chất của cuộc sống được soi rọi qua lăng kính của nhà thơ. Không chỉ vậy, một bài thơ có tính chân thực còn đòi hỏi cả tấm lòng của người viết nữa. Và chính nhạc điệu của bài thơ là yếu tố nghệ thuật phản ánh chân thực nhất “điệu hồn" của nhà thơ. Điệu hồn ấy là những những rung động sâu xa từ trong sâu thẳm trái tim của người làm nghệ thuật, là tâm tư, lòng trắc ẩn, sự chiêm nghiệm của thi sĩ. Những đặc trưng của một thể loại trữ tình sẽ giúp thơ ca thể hiện được những điều sâu xa ấy của tâm hồn con người.

I.2. Thơ hay là sự hài hòa giữa nhiều yếu tố trong một chỉnh thể bài thơ

Hài hòa là thuộc tính cơ bản nhất của cái đẹp. Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố hợp thành. Cái đẹp của một tác phẩm văn học nằm ở sự thống nhất, hài hòa giữa các yếu tố đó: hài hòa giữa các yếu tố của nội dung tư tưởng, hài hòa giữa các yếu tố hình thức nghệ thuật và hài hòa giữa nội dung và hình thức. Mỗi bài thơ cũng là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo. Sự hài hòa giữa các yếu tố nội dung trong một bài thơ thể hiện ở sự thống nhất, liền mạch giữa các ý thơ. Sự hài hòa giữa các yếu tố nghệ thuật thơ là sự tương tác, phối hợp giữa những cách gieo vần, ngắt nhịp, phối thanh, sáng tạo hình tượng v.v… Sự hài hòa giữa nội dung và hình thức trong chỉnh thể bài thơ cho thấy hình thức nghệ thuật không chỉ là “yếu tố kĩ thuật” mà bắt nguồn sâu xa từ trong cá tính sáng tạo của nhà thơ, thể hiện ở nhiều chiều: hình thức nghệ thuật của bài thơ có tác dụng làm nổi rõ đối tượng cần phản ánh, đồng thời, chính nội dung tư tưởng sẽ quy định cách cấu trúc các đơn vị ngôn ngữ thơ. Tổng thể những mối thống nhất, hài hòa đó sẽ tạo nên đặc trưng cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ.

I.3. Thơ hay luôn mang đến một làn gió mới mẻ

Cái đẹp trong nghệ thuật bao giờ cũng hiện rõ dưới một hình thái mới về chất. Điều này có ý nghĩa sâu sắc đối với quá trình sáng tạo của thi sĩ. Thi sĩ được người đọc yêu mến không ngại viết về những đề tài quen thuộc. Tác phẩm không nhất thiết cứ phải nói cái gì hoàn toàn mới, chưa biết, chưa nghe đến bao giờ, nhưng phải lạ trong cách cảm nhận, đánh giá. “Nghệ thuật là sự ngạc nhiên”. Ngạc nhiên vì khám phá ra những điều mới mẻ trong những cái quen thuộc. Đó chính là ý mà nhà thơ Liên – xô E. Vi-nô-ku-rốp từng phát biểu: mỗi bài thơ mới là một “sự bất ngờ mong đợi” đối với độc giả. “Người đọc thơ chờ đón ở cuốn sách đọc lần đầu một cái gì đối với mình thật mới mẻ, thật bất ngờ, nhưng lại là cái mà anh ta đã mường tượng đâu đấy trong đáy sâu của tâm hồn từ lâu. Nhiệm vụ của nhà thơ là thể hiện điều mơ ước không rõ nét ấy.” Thi sĩ có thể thổi làn gió mới vào tác phẩm của mình không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn có thể bằng cách khai thác những đặc trưng về cấu trúc ngôn ngữ của loại hình nghệ thuật này.
Một bài thơ hay là một sản phẩm có giá trị thẩm mỹ cao, được tạo nên từ sự kết hợp một cách nhuần nhị, tự nhiên của tất cả các yêu cầu trên, đem đến cho người thưởng thức thơ những rung động, xúc cảm thẩm mỹ tích cực.

II. TRE VIỆT NAM (NGUYỄN DUY) LÀ MỘT BÀI THƠ ĐẸP, MỘT BÀI THƠ HAY

Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh?
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu?
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít, chắt dồn lâu hóa nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người.
Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con.
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu.
Mai sau
mai sau
mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh.
(1970 - 1972)
Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ khoác áo lính trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Sáng tác thơ ca cách mạng mới giai đoạn 1945-1975 đã trở thành một hiện tượng nghệ thuật độc đáo, đánh dấu một giai đoạn phát triển của thơ ca Việt Nam (Trần Đình Sử). Vẻ đẹp của sáng tác thơ ca giai đoạn này thể hiện ở những phản ánh chân thực về các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong lao động và chiến đấu, ở sự kết hợp hài hòa giữa lý tưởng cách mạng và tài hoa nghệ thuật của các nhà thơ, ở những sáng tạo độc đáo về hình tượng đất nước và nhân dân... Ra đời trong giai đoạn ấy, Tre Việt Nam của Nguyễn Duy hòa vào vẻ đẹp chung của thơ ca thời đại, đồng thời mang cái nhìn và những cách thể hiện độc đáo, rất riêng, in đậm dấu ấn phong cách Nguyễn Duy.
Cùng với Hơi ấm ổ rơm Bầu trời vuông, Tre Việt Nam đã mang đến cho Nguyễn Duy giải Nhất trong cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ năm 1973. Bài thơ được rút ra từ tập Cát trắng. Đây là tập thơ nổi tiếng về chiến tranh và người lính của nhà thơ cựu chiến binh này.

II.1. Tre Việt Nam – Cái đẹp của sự chân thật

II.1.a) Chân thật về đối tượng phản ánh

Tính chân thật của bài thơ được thể hiện trước hết qua đối tượng phản ánh. Bài thơ lấy nhan đề là Tre Việt Nam và đó cũng chính là đối tượng miêu tả của nhà thơ.
Bằng biện pháp nhân hóa được sử dụng toàn bài, Nguyễn Duy đã để cho cây tre Việt Nam tự nói một cách sống động, chân thật về tính chất và đời sống của mình. Nhưng đó chỉ mới là lớp nghĩa thứ nhất. Bài thơ không đơn thuần chỉ miêu tả cây tre. Tre chỉ là một hình ảnh ẩn dụ cho những phẩm chất và cuộc đời của những người dân lao động Việt Nam. Bằng sự quan sát tinh tế và óc liên tưởng tài tình, nhà thơ đã nhìn thấy ở cây tre nhiều phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Đó là bản tính cần cù, chịu thương chịu khó, tinh thần lạc quan luôn dũng cảm đối mặt và tìm mọi cách khắc phục những khó khăn, trở ngại của cuộc sống, giống như tre là loài cây có sức sống mạnh mẽ, ưa nắng, có sức đấu tranh bền bỉ với những điều kiện hạn chế của đất đai, khí hậu:
Mỡ màu ít chắc dồn lâu hóa nhiều
            Rễ siêng không ngại đất nghèo
            Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.
(…)
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ, trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm          .
Đó là tinh thần đoàn kết cao độ của dân tộc Việt Nam, tương đồng với khả năng sống tập trung cao của cây tre:
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre không ở riêng…
Đó còn là tấm lòng yêu thương vô bờ bến, lòng vị tha của những con người hiền hòa mà Nguyễn Duy đã nhìn thấy được thông qua một hình ảnh thú vị của cây tre:
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con
Nhưng cũng không chỉ dừng lại ở lớp nghĩa thứ hai ấy, thông qua một hình tượng rất đỗi thân quen – cây tre, bài thơ còn là một sự khái quát hóa cao độ về bản chất, sức sống của nền văn hóa Việt. Đó chính là lớp ý nghĩa thứ ba của bài thơ.

II.1.b) Chân thật về phương pháp phản ánh

Có thể nói, nhà thơ viết rất thật với lòng mình. Sinh ra và lớn lên trên một vùng đất nghèo khó, lại trải qua một thời gian dài tham gia quân đội, Nguyễn Duy có dịp tiếp xúc và quan sát nhiều với cây tre Việt Nam cũng như với những con người Việt Nam cần cù, chịu khó ấy. Bài thơ là sự đúc kết từ những quan sát tinh tế, từ những suy ngẫm, chiêm nghiệm hằng ngày của bản thân, thể hiện được tấm lòng của người viết đối với loài cây kiên cường ấy và nhất là đối với những con người trên quê hương đất nước mình. Nếu không có một tấm lòng chân thành trong sáng tác thì làm sao các dòng thơ như cứ liên tiếp gọi nhau tạo thành một mạch thơ chảy trôi được, làm sao các lớp hình tượng của bài thơ (cây tre – con người – nền văn hóa Việt Nam) có thể chuyển hóa cho nhau, hiện lên thông qua nhau một cách hợp lý, uyển chuyển như vậy được.
Ngoài ra, tính chân thật về phương pháp phản ánh của bài thơ còn được gợi lên qua hình thức tự sự của cây tre. Còn gì thật hơn là để nhân vật tự kể về tính chất mình, cuộc đời mình?

II.2. Tre Việt Nam – Cái đẹp của sự hài hòa

II.2.a) Hài hòa trong các yếu tố của nội dung

Biểu hiện thứ nhất của tính hài hòa trong nội dung tác phẩm là sự thống nhất giữa ba lớp ý nghĩa trên. Các hình tượng nghệ thuật cứ được gọi lên thông qua nhau một cách hợp lý, uyển chuyển: cứ qua mỗi tính chất của tre, người đọc lại thấy hiện dần lên một phẩm chất đáng quý của người lao động ta, từ đó có niềm tin mạnh mẽ vào một nền văn hóa thấm đẫm những phẩm chất ấy.
Sự hài hòa về mặt nội dung còn là sự thống nhất giữa các ý thơ. Có thể nói, bắt đầu từ câu Có gì đâu, có gì đâu thì toàn bài thơ lần lượt hiện lên những phẩm chất, tính cách, những nét số phận của tre và cũng là của con người Việt Nam. Những nét tính cách, số phận ấy có mối quan hệ gắn bó với nhau, có khi như là mối quan hệ nhân - quả: vì đất nghèo nên rễ phải cần cù, vì yêu nắng nỏ trời xanh nên tre không đứng khuất mình bóng râm…, có khi là mối quan hệ bổ sung để hoàn thiện hơn hình tượng cây tre Việt Nam: tre xanh không đứng khuất mình bóng râmhiên ngang thế, cứng cáp thế (nòi tre đâu chịu mọc cong, chưa lên đã nhọn như chông lạ thường), nhưng cũng  hết sức giàu lòng vị tha, giàu tình yêu thương (lưng trần phơi nắng phơi sương, có manh áo cộc tre nhường cho con)…
Ở một cấp độ khác, nội dung của bài Tre Việt Nam còn có những điểm thống nhất với hệ thống các tác phẩm cùng thời. Trong bài thơ, nét đẹp của con người Việt Nam được hiện lên qua những khó khăn, gian khổ (rễ siêng - đất nghèo, kham khổ - hát ru, bão bùng – thân bọc lấy thân,…). Đây là một đặc trưng trong thi pháp thơ ca giai đoạn 1945-1975: miêu tả cái đẹp ánh lên từ những khổ đau. Quan điểm ấy đã được thể hiện trong nhiều sáng tác cùng thời:
- Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều.
(Tố Hữu)
- Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
- Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
(Nguyễn Đình Thi)
v.v…
Người Việt Namluôn ý thức được đất mình là một đất nước nghèo, do chiến tranh, giặc giã, thiên tai,… triền miên. Vì vậy, cái nghèo đã thuộc về tiềm thức trong đời sống dân tộc. Từ trong cái nghèo đó lại luôn âm thầm và bền bỉ, kết tinh, lắng đọng một tinh thần quật cường, bất khuất, không cam chịu. Có thể nói, đây chính là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam, một sức mạnh đã trở thành hiện thực và cảm hứng thẩm mỹ của con người và dân tộc Việt hằng bao thế kỉ.

II.2.b) Hài hòa trong các yếu tố của nghệ thuật

Sự hài hòa này trước hết thể hiện qua sự thống nhất giữa thể thơ và giọng điệu. Nhà thơ đã hết sức tinh tế khi chọn cho lối kể chuyện trầm tĩnh, khoan hòa của mình một thể thơ giàu chất trữ tình sâu lắng của dân tộc: thể lục bát. Chính sự hòa hợp ấy đã làm tăng thêm tính biểu cảm cho lời thơ, đồng thời đưa ý đồ thẩm mỹ của nhà thơ đạt đến hiệu quả cao nhất:
Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh?
Thơ Nguyễn Duy còn có sự kết hợp hài hòa giữa cái duyên dáng, trữ tình với chất thế sự đậm đặc, nhiều bài là tiếng nói khẳng khái, bộc trực, đầy ngang tàng mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm sâu sắc. Tre Việt Nam không nằm ngoài đặc trưng đó của phong cách thơ Nguyễn Duy. Bài thơ vẫn hết sức duyên dáng, trữ tình nhờ thể thơ lục bát giàu nhạc tính và lối gieo vần bằng du dương, nhưng đôi khi ta cũng bắt gặp đây đó tiếng nói khẳng khái, hùng hồn được tạo nên bởi sự phá cách trong cách ngắt nhịp so với thể lục bát truyền thống:
- Có gì đâu,/ có gì đâu
Mỡ màu ít,/ chắt dồn lâu hóa nhiều
- Năm qua đi,/ tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu
- Mai sau/
Mai sau/
Mai sau/…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh.
v.v…
Sự hài hòa đó đã mang lại cho thơ Nguyễn Duy nói chung và Tre Việt Nam nói riêng nhiều sự chiêm nghiệm sâu sắc.

II.2.c) Hài hòa giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật

Ở phạm vi rộng lớn hơn, bài thơ là một chỉnh thể hài hòa giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Điều này dễ nhận diện nhất ở sự quy định hình thức nghệ thuật của nội dung: bài thơ tràn ngập một cảm hứng ngợi ca, tự hào về những nét đẹp trong phẩm chất và đời sống của con người Việt Nam. Cảm hứng ấy nằm trọn vẹn trong một bài thơ lục bát nhuần nhị - một thể truyền thống của thơ ca người Việt, góp phần tô đậm tinh thần dân tộc cao độ của nhà thơ.
Như đã trình bày, bài thơ miêu tả nét đẹp của con người Việt Namánh lên từ những khổ đau. Vì thế, hàng loạt những cặp hình tượng đối lập được xây dựng nhằm làm nổi bật nội dung ấy: thân gầy guộc, lá mong manh – nên lũy nên thành, đất sỏi đất vôi bạc màu - ở đâu tre cũng xanh tươi, mỡ màu ít - chắt dồn lâu hóa nhiều, rễ siêng - đất nghèo, kham khổ - hát ru lá cành, bão bùng – thân bọc lấy thân, thân gãy cành rơi – nòi tre…nhọn như chông, tre già – măng mọc…
Nhìn một cách tổng thể, bài thơ là sự thống nhất của nhiều mối quan hệ thống nhất, hài hòa. Chính vì vậy mà nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật đều có giá trị vững chắc.

II.3. Tre Việt Nam – Một vẻ đẹp mới lạ

II.3.a) Về hình tượng nghệ thuật

Nguyễn Duy đã không ngại dùng hình ảnh cây tre - một loài cây vốn xa lạ với văn thơ Việt xưa (thường là trúc, không phải là tre) - để nói về con người Việt Nam. Tuy nhiên, viết về cây tre theo khuynh hướng này, không phải chỉ có một mình Nguyễn Duy. Nhà văn Thép Mới trong bài Cây tre Việt Nam cũng từng ca ngợi nhiều phẩm chất quý báu của tre có thể liên hệ được với phẩm chất người lao động Việt Nam: Tre xung phong giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín… Nhưng nét độc đáo trong bài Tre Việt Nam của Nguyễn Duy là nhà thơ đã thổi sự sống, hơi thở, nhịp đập của tâm hồn nhân dân vào hình tượng cây tre, khiến cây tre Việt Namtrong bài thơ trở thành một sinh thể sống có tâm trạng, suy tư và biết tự kể về cuộc đời mình. Chính điều đó cũng đã làm cho bài thơ trở nên gần gũi, dễ đồng cảm hơn, xóa đi khoảng cách cố hữu giữa người đọc và chủ thể trữ tình. Đọc bài thơ, chúng ta như nghe thấy chính mình đang tâm sự với mình vậy.

II.3.b) Về lối liên tưởng, so sánh

Bài thơ có nhiều những hình ảnh so sánh, liên tưởng hết sức thú vị, như Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành, Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm, Lưng trần phơi nắng phơi sương – Có manh áo cộc tre nhường cho con…Phần lớn là những liên tưởng, so sánh với những hoạt động, tính cách của con người nên khiến cho “nhân vật tre” thêm phần gần gũi, thân thiết với đời sống và con người Việt Nam.

II.3.c) Về cách tổ chức các đơn vị ngôn ngữ thơ

Nguyễn Duy là một trong số không nhiều cây bút hiện nay đã góp phần làm mới thể lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại, tạo nên nét độc đáo, hấp dẫn trong cấu trúc, hình ảnh và ngôn ngữ của thể thơ truyền thống này. Ở bài Tre Việt Nam, đó là sự phá cách trong cách ngắt nhịp như đã trình bày, là việc sử dụng lối thơ “rớt dòng” ở những câu sáu tiếng:
- Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh?
- Mai sau
Mai sau
Mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh.
Cả bài thơ là lời tre tự kể về tính cách, cuộc đời mình, khiến cho lời thơ thêm phần chân thật, dễ đồng cảm. Nhà thơ đã tiếp thu yếu tố tự thuật này trong văn xuôi và đưa vào thơ lục bát một cách tự nhiên, tươi mới, mà vẫn giữ được điệu sâu lắng, nhịp nhàng của thể loại trữ tình này.
Nguyễn Duy nổi tiếng với tài năng vận dụng những yếu tố của văn học dân gian vào thơ mình một cách linh hoạt, nhuần nhị, giàu cá tính sáng tạo. Đọc thơ Nguyễn Duy ta như gặp một thế giới của ngôn ngữ dân gian “sinh động, phập phồng, làm nền cho tiếng đàn độc huyền đầy sáng tạo của hồn thơ thi sĩ”[1]. Ở Tre Việt Nam, ta bắt gặp những cách nói cân đối, nhịp nhàng gần với lời nói dân gian (như quán ngữ, thành ngữ): nên lũy nên thành, tay ôm tay níu, thân gãy cành rơi…hoặc chính những lời nói dân gian ấy lẫn vào bài thơ một cách tự nhiên, đằm thắm: Năm qua đi, tháng qua đi, Tre già măng mọc có gì lạ đâu. Trong bài thơ, ta còn bắt gặp những câu mang dáng dấp quen thuộc của những câu ca dao. Chẳng hạn như câu Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù gợi người đọc nhớ đến những câu ca dao có mô hình cấu trúc “bao nhiêu…bấy nhiêu…” như Bao nhiêu nuộc lạc nhớ ông bà bấy nhiêu hay Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu…
Những nét độc đáo sáng tạo ấy đã thổi một làn gió mới mẻ vào bài thơ Tre Việt Nam nhưng vẫn giữ được nét duyên dáng, đằm thắm vốn có. Bởi một đặc điểm trong phong cách thơ Nguyễn Duy là thể hiện điệu tâm hồn mới bằng những sáng tạo bắt rễ sâu xa từ truyền thống dân tộc.

III. KẾT LUẬN

Tre Việt Nam là một bài thơ hay: tính chân thực cao, có sự kết hợp nhuần nhị, hài hòa giữa những yếu tố trong chỉnh thể bài thơ cùng với những nét sáng tạo mới lạ, độc đáo về lối tư duy và hình tượng nghệ thuật. Ngôn từ đẹp cộng với giá trị sâu sắc của nội dung phản ảnh đã làm rung động nhiều thế hệ người đọc. Hình ảnh cây tre vốn rất đỗi thân quen, gần gũi với người lao động Việt Nam xưa nay, nhưng phải từ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy thì những phẩm chất đáng quý của cây tre mới được nhận diện, khai thác hết, và cũng từ đó mà cây tre trở thành một vật biểu trưng cho con người Việt Nam, cho dân tộc Việt ta. Ra đời trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt, bài thơ là một vẻ đẹp mang tính thời sự, nhưng ngẫm cho kĩ thì đó lại là vấn đề muôn thưở: tìm về bản chất sức mạnh của dân tộc mình./.
TPHCM, 5/2009


1.   Phùng Quý Nhâm, Bài giảng về Mỹ học (tài liệu lưu hành nội bộ), Trường Đại học Sư phạm TPHCM, 2009.
2.   Nguyễn Duy, Cát trắng (tập thơ), NXBQuân đội nhân dân, H.
3.   Aristotle, Nghệ thuật thơ ca, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H.2007.
4.   Đimitriêva A. N., Bàn về cái đẹp, NXBVăn hóa nghệ thuật, H.1962.
5.   Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận văn học, NXBGD, H.2008.
6.   Lê Lưu Oanh, Văn học và các loại hình nghệ thuật, NXBĐHSP, H.2006.
7.   Lê Ngọc Trà, Lý luận và văn học, NXBTrẻ, TPHCM.2005.
8.   Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, NXBGD, H.1995.
š




[1] Phạm Thu Yến, Những thế giới nghệ thuật ca dao (Ca dao vọng về trong thơ Nguyễn Duy), NXBGD, H.1998, tr200.

TÌM HIỂU TIẾNG LÒNG NGƯỜI VIỆT QUA BIỂU TƯỢNG “ĐÀN” TRONG CA DAO



NGUYỄN NGỌC ĐOAN TRANG[1]
Theo R.Linton và H.Poirier, “Văn hóa là một chỉnh thể bao gồm: Khái niệm – Chuẩn mực – Giá trị – Biểu tượng… tạo nên bản thể hay bản tính của một cộng đồng cư dân” [dẫn theo 4:16]. Như vậy, biểu tượng là một chất liệu quan trọng cấu thành nền văn hóa dân tộc. Biểu tượng trong văn hóa là sản phẩm của một hình thức tư duy cao cấp, là trung tâm của những thành tựu sáng tạo cao nhất của con người [2]. Vì vậy, có nhà nghiên cứu đã gọi đó là điểm sáng thẩm mỹ, giúp con người dễ giao cảm hơn với nền văn hóa của một dân tộc [8:65].

Biểu tượng trong văn học là kết quả của nghệ thuật biểu trưng hóa những sự vật, hiện tượng tự nhiên, được nhận diện bằng chất liệu ngôn từ, cho nên những từ ngữ biểu đạt biểu tượng sẽ được khai thác ở góc độ nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm. Biểu tượng văn học thực chất là ẩn dụ được sử dụng ở mật độ cao, mang tính quy ước, vì vậy, so với ẩn dụ, biểu tượng có tính ước lệ và bền vững hơn. Nó là “vật môi giới” “mang một kí hiệu” “giúp ta tri giác cái bất khả tri giác” [9:309]. Trong đó, ca dao có thể được ví như một chiếc rương quý bảo lưu rất nhiều những biểu tượng dân gian. Nói đúng hơn là cả một thế giới biểu tượng sống trong ca dao. Biểu tượng ăn sâu vào trong tư tưởng thẩm mỹ dân gian, trở thành một phương thức sáng tạo tất yếu cho loại hình thơ ca dân gian này. Biểu tượng ca dao được phân loại thành nhiều hệ thống, bài viết này muốn thử đi giải mã một biểu tượng thuộc hệ thống các vật thể nhân tạo: biểu tượng đàn.

Về phân loại, đàn nằm trong nhóm những dụng cụ sinh hoạt gia đình. Đây là cách phân loại biểu tượng của các tác giả Nguyễn Xuân Kính và Trương Thị Nhàn [9:310]. Thế giới các vật thể nhân tạo, trong đó, các dụng cụ sinh hoạt gia đình xuất hiện trong ca dao dưới những biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng, mang giá trị biểu trưng nghệ thuật cao, chiếm một tỉ lệ vượt trội [15:46-48]. Điều đó cho thấy sự quan tâm của con người đối với những đồ vật gần gũi, thân thiết xung quanh mình. Trong số đó, cây đàn hay tiếng đàn đã được các tác giả dân gian chú ý, chọn làm biểu tượng cho tâm trạng, nỗi lòng hay có khi còn là cho thân phận của mình.

Có thể thấy rằng, cây đàn không phải lúc nào cũng hiện diện trong từng ngôi nhà của người dân Việt Nam ngày xưa; đặc biệt là đối với người nông dân, cây đàn không thật gắn bó thường trực với họ như những đồ vật khác. Đó chính là lý do mà trong kho tàng ca dao người Việt - tiếng nói của những người “trồng dâu nuôi tằm”[3]- tần số xuất hiện của biểu tượng đànlại đứng sau những biểu tượng khác như: áo, quần; chiếu, gối, chăn, giường; khăn; đèn; đũa, mâm, bát; võng, dù; nón. [7:325]. Tuy nhiên, biểu tượng đàn trong tương quan với hơn một trăm biểu tượng ca dao khác, lại đứng thứ 33, thuộc vào loại biểu tượng có tần số xuất hiện cao: 75 lần/ tổng số 12000 câu ca dao [7:325]. Lý giải điều này, người viết muốn chú ý tới chức năng làm nghệ thuật của cây đàn, khiến nó có sự khác biệt với những dụng cụ sinh hoạt gia đình khác. Đàn là một loại nhạc cụ không thể thiếu của nghệ thuật thanh sắc. Khi nào một dân tộc còn lưu giữ loại hình nghệ thuật này cho nền văn hóa của mình, thì khi đó không thể vắng bóng cây đàn. Thông qua tiếng đàn, người ta có thể giãi bày được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. Trong giao tiếp và quan hệ xã hội thì người Việt Nam có xu hướng coi trọng tình cảm…, tinh thần…, ưa sự tế nhị, kín đáo [14:316]. Vì vậy, giai điệu, âm thanh từ những cung đàn chính là nơi người ta có thể kí thác tâm trạng, nỗi lòng mình. Đó chính là mục đích thẩm mỹ của con người dẫn đưa hình ảnh cây đàn đi vào thế giới ngôn từ nghệ thuật của ca dao như một tín hiệu thẩm mỹ đặc sắc.

Theo Trương Thị Nhàn thì trong ca dao, các biểu tượng thuộc nhóm những dụng cụ trong sinh hoạt gia đình nói chung được sử dụng thiên về biểu hiện những yếu tố, những tình huống của cuộc sống liên quan nhiều đến tình yêu và hạnh phúc gia đình [15:48]. Biểu tượng đàncũng vậy, hình ảnh cây đàn với những sắc thái của tiếng đàn, với những mối quan hệ nội tại hay ngoại ứng của nó, khi đi vào ca dao đã trở thành biểu tượng cho tâm trạng của người đang yêu, cho sự gắn bó của lứa đôi, vợ chồng. Số lượng những câu ca dao thể hiện điều này chiếm tỉ lệ nhiều hơn hẳn (26 trên 30 câu mà người viết tự thống kê được).

Bài viết này xin được tiếp cận biểu tượng đàn trong ca dao theo các góc độ mà các tác giả dân gian đã tiếp cận và khai thác hình ảnh cây đàn trong cuộc sống để đưa nó vào ca dao:

a)     Tiếng đàn – âm thanh hóa tâm trạng con người.

Nếu xét về phạm trù giá trị sử dụng trong hệ thống các phương thức miêu tả biểu tượng là các vật thể nhân tạo [7:127], thì cây đàn được dùng để gảy nên những khúc nhạc tâm tình, để thỏa lòng người gảy cũng như người nghe. Vì vậy mà quá trình biểu trưng hóa cây đàn vào trong ca dao chủ yếu là quá trình biểu trưng hóa tiếng đàn.
Tiếng đàn trong ca dao lại là sự âm thanh hóa tâm trạng của người đang yêu. Nếu như biểu tượng sônghay chiếc cầu là không gian, biểu tượng thu là thời gian của con người vận động mang tính cách và tâm trạng thì biểu tượng đànlại chính là mối giao hòa giữa con người với chính mình, ở tiếng đàn, ta bắt gặp chính tâm trạng mình đang vận động. Tiếng đàn khi chứa đầy tâm trạng có sức rung cảm rất lớn:
Đi qua nghe tiếng em đàn
Cá mười khe đứng lại, chim trên ngàn đậu im. [11:370]
Đàn ai khéo gảy tính tinh
Một đàn con cá nước lặn ghềnh nó nghe.
                                                            [11:367]
Mang nỗi lòng không thể giãi bày, người ta chỉ có thể mượn tiếng đàn mà gửi gắm:
 Đàn kêu cống xự hồ xang
Lòng tôi thương bạn, biết chăng bạn vàng?
                                                            [11:387]
Đờn tranh dây xế, dây xang
Anh còn thương bạn bạn khoan lấy  chồng.
                                                            [11:379]
Đờn cò lên trục kêu vang
Anh còn thương bạn bạn khoan có chồng.
                                                              [2:414]
Đàn cầm chửa bén duyên tơ
Năm canh luống những ngẩn ngơ tiếng đàn.
                                                              [2:440]
Có khi đó là tiếng đàn được nhắc đến một cách khái quát, nhưng cũng có khi tiếng đàn còn được gắn với một loại đàn cụ thể:
-     Đờn tranh dây xế, dây xang …            (sđd)
-     Đờn cò lên trục kêu vang …                (sđd)
-     Cung đàn tỳ bà ai khéo gảy tang tình tính tang     [11:367]
Điểm qua những câu ca dao có yếu tố khởi hứng là tiếng đàn, người viết nhận thấy sắc thái của tiếng đàn thường được cụ thể hóa bằng những từ tượng thanh:
-     Đàn ai khéo gảy tính tinh                (sđd)
-     Cung đàn tỳ bà ai khéo gảy tang tình tính tang(sđd)
hoặc là những từ đệm ở đầu và cuối bản đàn như xang, xế…:
-     Đàn kêu cống xự hồ xang                (sđd)
-     Đờn tranh dây xế, dây xang …            (sđd)
-     Long ngâm hổ đối, cá cống xang hồ, cái hồ xang …         (sđd)
Cấu trúc của những câu ca dao này có thể giống nhau ở các từ tượng thanh hoặc từ đệm, nhưng mỗi câu lại là một nỗi lòng, một tâm tình riêng. Về điểm này, người viết trộm nghĩ tới sự tương giao với tính linh hoạt trong nghệ thuật thanh sắc của người Việt: Âm nhạc truyền thống không đòi hỏi mọi nhạc công chơi giống hệt nhau. Chỉ cần bắt đầu và kết thúc giống nhau và chơi đúng theo hơi quy định (ví dụ bắt đầu bằng chữ “xang”, kết thúc bằng chữ “xê” theo hơi Namhay hơi Xuân), còn ở các phách giữa thì mỗi nghệ nhân có thể bộc lộ hết tài năng của mình. [13:183]
Có khi chủ thể của tiếng đàn hiện lên qua động tác gảy đàn:
-     Đàn ai khéo gảy tính tinh…                 (sđd)
-     Cung đàn tỳ bà ai khéo gảy tang tình tính tang…  (sđd)
-      Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng         [7:241]
- (…) Em thương anh dạ xót xa
Cầm đàn ra gảy biết đà có nguôi
Đang vui em lại nực cười
Đang đi lưu thủy lộn bài song ngâm (…)
                                                            [7:422]
Gắn với động tác gảy đàn là những khúc nhạc được gảy: khúc Cầu hoàng, lưu thủy, song ngâm… góp phần đắp nổi những sắc thái tình cảm, tâm trạng của người gảy, đồng thời thể hiện sự tài hoa, am hiểu âm nhạc của những nghệ nhân dân gian (vừa chơi đàn hay lại vừa sáng tác ca dao).
Nhưng cũng có khi cây đàn được nhân cách hóa như một sinh thể sống có tâm trạng để chủ thể trữ tình lẩn khuất đi, vậy mà người đọc vẫn nhận thấy cái tâm tình kín đáo, tế nhị của người đàn:
-     Đàn kêu cống xự hồ xang…                (sđd)
-     Đờn cò lên trục kêu vang…                 (sđd)
Tiếng đàn cũng thường bắt gặp cùng với tính từ miêu tả não nùng trong thế đối sánh với tâm tư con người:
Cầm đànmà gảy năm cung
Đàn ai mà gảy não nùng rứa ai.
                                                              [7:241]
Cầm đàn mà gảy qua sông
Đàn em, em gảy não nùng như ru
Đàn anh dây thẳng, dây chùng
Đàn em, em gảy năm cung rõ ràng.
                                                              [2:440]

Tiếng lòng con người lúc này cũng hòa điệu với sắc thái chung của tiếng đàn Việt Nam: buồn sâu lắng. Đó chính là một vẻ đẹp nhân văn của nền văn hóa Việt Nam đã được thể hiện trong âm nhạc và in đậm dấu ấn vào ca dao: âm nhạc Việt Nam  đều thiên về diễn tả tình cảm nội tâm mang đậm tính chất trữ tình, gợi nên những cảm xúc âm tính - những nỗi buồn man mác [theo14].
Tiếng đàn trong ca dao cũng được nhắc đến cùng với năm cung:
-      Cầm đàn mà gảy năm cung
Đàn ai mà gảy não nùng rứa ai. (sđd)
-      Cầm đàn mà gảy năm cung
Gặp chàng sẽ gảy tình chung đôi lời.
                                                              [7:241]
-  Cầm đàn mà gảy qua sông
Đàn em, em gảy não nùng như ru
Đàn anh dây thẳng, dây chùng
Đàn em, em gảy năm cung rõ ràng. (sđd)
Phải chăng có một sự hòa điệu tình cờ giữa năm cung bậc thanh âm trong tiếng đàn với năm sắc thái tình cảm của con người? Hay con số năm ấy chỉ là hình ảnh ước lệ cho triết lý hài hòa, cân bằng của thế giới cảm tính bên trong con người, như một số nhà nghiên cứu biểu tượng con số trong văn hóa đã đề cập tới? [9:208-212]

b)     Biến thể đàn – dây.

Đàn trong ca dao không chỉ tồn tại dưới cấu trúc của một biểu tượng đơn mà có khi nó còn kết hợp với những yếu tố khác để tạo thành những biến thể là những biểu tượng sóng đôi. Đó là khi cây đàn được các tác giả dân gian khai thác trong những mối quan hệ khác nhau.
Khi đàn được nhìn trong mối quan hệ với chính nó, trong cấu tạo của nó thì khi đó ta có biến thể sóng đôi đàn – dây trong ca dao.
Đặc trưng cấu tạo của cây đàn cũng chính là cơ sở để tiếp cận biểu tượng đànbằng phạm trù trạng thái, tính chất. Đa phần những loại đàn truyền thống của dân tộc Việt đều thuộc bộ dây (tức là âm thanh của tiếng đàn được gợi lên bằng cách tác động vào dây đàn), chẳng hạn như đàn cò, đàn nhị, đàn bầu, đàn tranh… Vì vậy mà mối quan hệ đàn – dây đã có sức khơi gợi mạnh mẽ. Thực chất thì những nét nghĩa của biến thể đàn – dây nằm trong thế “tiền giả định” là đàn phải có dây, đàn và dây gắn bó với nhau, tồn tại cùng nhau như một tất yếu. Hai trạng thái liên kết giữa đàn và dây có thể được kí hiệu hóa như sau: đàn – dây (+) chỉ trạng thái đàn có đủ dây, hay như ngôn ngữ ca dao là đàn bén dây. Sự gắn bó đó khiến người ta liên tưởng đến sự gắn bó lứa đôi:
(…) Bây giờ đàn đã bén dây
Chẳng trăm năm cũng một ngày đôi ta
                                                              [7:241]
 Chính vì dây là một bộ phận không thể thiếu của đàn, không có dây thì đàn cũng trở nên vô dụng, cho nên kí hiệu đàn – dây (-) chỉ trạng thái đàn đứt dây, đàn không dây một trạng thái không bình thường, không hoàn mỹ của sự vật, nó gợi nghĩ về những cảnh đời bất hạnh, không như ý của con người, chẳng hạn như cảnh mồ côi:
Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây
                                                              [7:242]
Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn không dây.
                                                              [7:242]
hay như lời than thân sau của cô gái đã gợi được nhiều thương cảm đối với người đọc:
Phận em sao lắm dở dang,
Cầm tiêu tiêu gãy, cầm đàn đứt dây.
                                                              [7:242]
(…) Cầm đàn mà bỏ quên dây
Luống công ao ước từ ngày ước ao
                                                              [7:242]
Khi đó, đàn đã trở thành biểu trưng cho một cảnh đời.
c)      Biến thể đàn – loại nhạc cụ khác.
Khi cây đàn được nhìn trong mối quan hệ với sự vật xung quanh, trong ca dao lại xuất hiện thêm biến thể sóng đôi đàn – loại nhạc cụ khác. Và yếu tố được biểu trưng hóa ở đây chính là sự phối hợp âm thanh giữa các nhạc cụ này, thường thì nó là biểu tượng cho lứa đôi đang yêu, hay những cặp vợ chồng.
Nhạc cụ khác ở đây có thể cũng là đàn nhưng là một loại đàn khác:
Đờn huyền hòa với đờn tranh,
Em có chồng, phụ nghĩa anh, anh buồn.
                                                              [7:242]
Vợ như nàng, chồng đặng như anh,
Giả như đờn đấu, đờn tranh hợp hòa.
                                                              [7:242]
Sự kết hợp giữa hai loại đàn khác nhau còn được thể hiện dưới hình thức từ ghép Hán Việt sắt cầm. Theo Tự điển Hán - Việt thì sắt“cái đàn sắt, thứ đàn có 25 dây”, còn cầm“cây đàn cầm, đàn dài ba thước sáu tấc, căng bảy dây gọi là đàn cầm” [13:369-370]. Cặp biểu tượng sắt - cầm được sử dụng khá phổ biến trong văn chương bác học thời kì trung đại như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc…[4].Tình cầm sắt được nhắc đến ở các tác phẩm này như một ẩn dụ cũng được hiểu là tình nghĩa gắn bó thủy chung của lứa đôi, vợ chồng. Trong ca dao, cặp biểu tượng này xuất hiện cũng không nằm ngoài nét nghĩa đó:
(…) Ước sao chỉ Tấn tơ Tần
Sắt cầm hảo hợp lựa vần quan thư
                                                            [11:223]
Câu lương duyên thề nguyền giao ước
Nghĩa sắt cầm giữ vẹn trước cũng như sau…
                                                            [11:227]
(…) Trước nhờ Nguyệt Lão xe dây
Sắt cầm đưa lại đó đây một nhà.
                                                            [11:266]
Có khi đó còn là sự kết hợp giữa đàn với một loại nhạc cụ khác trong dàn hợp tấu, thường là với sáo. Tiếng sáo hòa hợp với tiếng đàn là dấu hiệu của sự tri âm, còn tiếng sáo đi ngược tiếng đờn là dấu hiệu của sự không đồng cảm:
Đàn Châu Tuấn ít ai biết gảy
Sáo Tam Kì ít kẻ biết nghe
                                                            [17:209]
Bởi vì ai nên tiếng sáo đi ngược tiếng đờn
Duyên kim đâu phải ngày một,  mà anh đã vội hờn đó anh.   [7:243]
(…) Đàn ơi lên dây cho đúng bậc, để sáo hòa đôi câu.           [9:164]
Sự kết hợp giữa những loại nhạc cụ truyền thống này một phần phản ánh được những nét riêng trong văn hóa âm nhạc của dân tộc, một phần còn thể hiện được sự tinh tế, sành nghệ thuật của những tác giả dân gian trong việc thưởng thức tiếng đàn.
Ở phần cuối của bài viết này, người viết xin được trình bày quan điểm của mình về nguồn gốc của biểu tượng đàn. Trong ca dao, đôi khi ta bắt gặp những câu mà biểu tượng đàn xuất hiện cùng với hai nhân vật nữa tạo thành biểu tượng sóng ba: Bá Nha – đàn - Tử Kỳ để biểu trưng cho sự  tri âm. Hiện tượng này gợi nhớ đến điển cố văn học Bá Nha - Tử Kỳ [3:555]:
Đàn Bá Nha lên dây sẵn đợi
Đợi bạn Tử Kỳ tri âm hỡi có hay?
                                                              [2:440]
(…) Tử Kỳgặp lại Bá Nha
Đàn ơi lên dây cho đúng bậc, để sáo hòa đôi câu.
                                                              [9:164]
Hay là hình ảnh đàn đứt dây trong một số trường hợp biểu tượng cho nỗi lòng đau đớn cũng vốn có một tích như sau: Tiểu Lân là người đàn bà hay đờn thưở xưa, sau bị cải giá, nhân lúc dây đàn đứt, nàng có thơ rằng:“Dục tri tâm đoạn tuyệt, Ưng khan tất thượng huyền”, ý là muốn biết mối tơ lòng đứt nát, thời nên coi cái dây đàn trên đầu gối [12:272]. Và biểu tượng tiếng đàn trong những trường hợp này xuất phát từ văn học cổ Trung Quốc.

Nhưng không phải lúc nào hình ảnh cây đàn cũng xuất hiện cùng với Bá Nha - Tử Kỳ, điển hình là các ví dụ đã dẫn ở phần trên. Thêm nữa, sự tương đồng giữa trạng thái đàn đứt dây với những cảnh ngộ đau khổ, không may của con người hoàn toàn có thể được nhân dân liên tưởng từ quá trình quan sát trực tiếp trong cuộc sống.

Qua đó, người viết nhận thấy đàn là một dạng biểu tượng có nguồn gốc khá phức tạp, đó là sự đan xen của nhiều ảnh hưởng khác nhau như đã trình bày. Tuy nhiên, một cách tương đối, người viết cũng xin được tổng kết về nguồn gốc của biểu tượng đàn như sau: trong những đơn vị ca dao mà đàn xuất hiện dưới dạng biểu tượng sóng ba Bá Nha – đàn – Tử Kỳ thì tiếng đàn có thể được xem như là biểu tượng có nguồn gốc từ văn học cổ Trung Quốc; đa phần còn lại, biểu tượng đàn trong ca dao là kết quả từ sự quan sát trực tiếp hằng ngày của nhân dân.

Ca dao là tiếng nói giàu nhạc điệu của dân gian. Tiếng đàn là tâm trạng của con người. Tiếng đàn trong ca dao là tiếng lòng trong tiếng lòng. Biểu tượng đàn trong ca dao là tấm gương phản chiếu hai lần tâm tư, tình cảm của người sáng tạo. Tiếp cận với biểu tượng đàn trong ca dao người Việt, ta sẽ bắt gặp tầng lớp lớp những tâm tình của dân tộc mình.
Bài viết này hy vọng góp thêm tiếng nói của mình vào việc tìm hiểu biểu tượng đàn, bằng cách vận dụng thành tựu nghiên cứu biểu tượng ca dao của những người đi trước để giải mã một biểu tượng truyền thống đặc sắc trong kho tàng ca dao người Việt./.
TPHCM, 2009




TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.       Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Văn học dân gian - Những công trình nghiên cứu, NXBGD, H.2004.
2.       Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Văn học dân gian - Những tác phẩm chọn lọc, NXBGD, H.2004.
3.       Đinh Gia Khánh, Điển cố văn học, NXBKHXH, H.1977.
4.       Đỗ Thị Hòa, Thế giới động vật thủy sinh và đời sống văn hóa Việt trong ca dao, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1/2008, tr.16-24.
5.       Đoàn Thị Thu Vân, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Đoàn Lê Giang, Tư liệu Ngữ văn 10 - Phần văn học, NXBGD, H.2006.
6.       J. Chevalier, A. Gheerbrat, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao… dịch, NXB Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du, ĐN-H. 1997.
7.       Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn - Đại học Sư phạm TPHCM, 2002.
8.       Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Tiếp cận biểu tượng trầu cau, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 2/1997, tr.65-68.
9.       Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao (Chương 7: Một số biểu tượng), NXB Đại học Quốc gia, H.2004.
10.   Phạm Thu Yến, Vấn đề nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca dân gian, Tạp chí Văn học, số 4/1999, tr.55-62.
11.   Phạm Việt Long, Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, NXB Chính trị quốc gia, H.2004.
12.   Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện, Lê Xuân Lít giới thiệu, NXBThanh Niên, TPHCM.2004.
13.   Thiều Chửu, Tự điển Hán - Việt, NXB Đà Nẵng, ĐN.2005.
14.   Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXBGD, H.2000.
15.   Trương Thị Nhàn, Giá trị biểu trưng nghệ thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3/1991, tr.46-52.
16.   Trương Thị Nhàn, Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một tín hiệu thẩm mỹ, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4/1992, tr.18-21.
17.   Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn học, H.2007.
* Chú thích [x:y] có nghĩa là [số thứ tự của tài liệu tham khảo đã liệt kêở trên : số trang trích dẫn].
š




[1] Thạc sĩ Ngôn ngữ học, giáo viên Ngữ văn trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (Tp. Hồ Chí Minh)
[2] Phạm Đức Dương, Từ văn hóa đến văn hóa học, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa thông tin, H.2002, dẫn theo [ 4: 17].
[3] Nguyễn Du có câu: “Thôn ca sơ học tang ma ngữ”(câu hát thôn dã giúp ta biết được tiếng nói của những người trồng dâu gai - tức là của những người bình dân).
[4] Do quy mô bài viết nên xin thứ lỗi cho người viết không tiện trích dẫn ra ở đây.