Home / Hồ Xuân Hương
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Xuân Hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Xuân Hương. Hiển thị tất cả bài đăng
THỦ PHÁP SONG QUAN VÀ YẾU TỐ TỤC - THANH TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG
Cơ chế của nghệ thuật trào phúng Hồ Xuân Hương đó là dựa vào thủ pháp song quan, xây dựng những hình tượng mang ý nghĩa sóng đôi, gắn với yếu tố cái tục để làm vũ khí châm biếm. Yếu tố cái tục có thể hiểu là những yếu tố nội dung có liên quan đến vấn đề tính dục . Thủ pháp song quan là một thủ pháp nghệ thuật quen thuộc trong thi pháp Trung đại. Song quan là hai cánh cửa, ám chỉ việc sử dụng một hình tượng đa nghĩa để biểu đạt nhiều đối tượng khác nhau, mỗi cánh cửa mở ra một đối tượng (Như Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến – một cánh cửa mở ra bài vịnh món đồ chơi thiếu nhi rất sinh động, cánh cửa khác là phê phán những vị tiến sĩ không thể lo cho vận mệnh của đất nước, của thời cuộc, trong đó phảng phất chút tự trào của nhà thơ. Có thể nói, việc sử dụng thủ pháp song quan với yếu tố cái tục chiếm một phần lớn trong mảng thơ trào phúng Hồ Xuân Hương.
Yếu tố cái tục biểu hiện trong thơ Hồ Xuân Hương cũng rất đa dạng. Trước hết có thể kể đến yếu tố cái tục gắn với thủ pháp song quan, tạo nên liên tưởng hai chiều, nửa thanh, nửa tục nhằm tạo hiệu quả trào phúng:
VỊNH CÁI QUẠT I
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dán tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dán tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
VỊNH CÁI QUẠT II
Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.
QUẢ MÍT
“Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay”
Da nó xù xì, múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay”
ỐC NHỒI
“Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”
Có thể thấy điểm chung của những bài thơ này đó là đều dựa vào yếu tố cái tục cùng thủ pháp song quan, để từ đó mỉa mai, nói móc, nói kháy vua, chúa, hay bọn hiền nhân quân tử.
Bên cạnh đó, yếu tố cái tục cùng thủ pháp song quan, cũng được nữ sĩ họ Hồ sử dụng để miêu tả thiên nhiên:
“Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom”
(Động hương tích)
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom”
(Động hương tích)
“Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu”
(Đèo ba dội)
Hòn đá xanh rì lún phún rêu”
(Đèo ba dội)
Riêng bản thân yếu tố cái tục cũng được sử dụng rất đa dạng, có khi nó được dùng để miêu tả vẻ đẹp của cơ thể nữ:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non”
(Bánh trôi nước)
Bảy nổi ba chìm với nước non”
(Bánh trôi nước)
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thợ vẽ khéo vô tình
(Đề tranh tố nữ)
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thợ vẽ khéo vô tình
(Đề tranh tố nữ)
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông.
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông.
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Có thể thấy, hình tượng cơ thể nữ trong thơ Hồ Xuân Hương hiện nên tràn trề sức sống. Hình tượng cơ thể nữ trong thơ Hồ Xuân Hương mang đậm màu sắc của chủ nghĩa phồn thục. Là một người phụ nữ, nhận thức được vẻ đẹp của người phụ nữ, hơn nữa lại có cách thể hiện, ngợi cả vẻ đẹp ấy một cách táo bạo, ấn tượng, đó chính là sự thức tỉnh cái tôi cá nhân mạnh mẽ của nữ sĩ họ Hồ.
Bên cạnh đó, yếu tố cái tục còn xuất hiện như một tình huống, để nhân trong thơ bộc lộ số phận của mình:
Hỡi chị em ơi có biết không ?
Một bên con khóc một bên chồng .
Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hơ khóc dước hong
Tất cả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông .
Chồng con cái nợ là như thế
Hỡi chị em ơi có biết không ?
(Thân phận người phụ nữ)
Một bên con khóc một bên chồng .
Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hơ khóc dước hong
Tất cả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông .
Chồng con cái nợ là như thế
Hỡi chị em ơi có biết không ?
(Thân phận người phụ nữ)
“Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng/Thằng bé hu hơ khóc dước hong”, đó là một hình ảnh trớ trêu, dở khóc, dở cười. Cái hỗn loạn, ngược ngạo của hoàn cảnh khiến người đọc thấy hài hước. Nhưng đó lại là cái cười ra nước mắt, thân phận người phụ nữ quá éo le, quá đau khổ.
Nhu vậy, rốt cuộc, thơ Hồ Xuân Hương là thanh, hay tục?
Trước hết cần phải khẳng đỉnh rõ: Thơ Hồ Xuân Hương có yếu tố tục, nhưng không thô tục. Lí do đơn giản nhất ta có thể thấy, nghệ thuật vốn là một lĩnh vực có sức đào thải mãnh mẽ, thời gian là một người sàng lọc khắc nghiệt nhưng công bằng. Cùng với thời gian, những tác phẩm kém giá trị, những tác phẩm tồi sẽ bị quên lãng. Nếu chỉ đơn thuần là thô tục, thì liệu rằng thơ Hò Xuân Hương có thể tồn tại cho đến ngày hôm nay?
Mặt khác, cũng cần phải thấy rõ rằng, yếu tố tục trong thơ Hồ Xuân Hương chỉ đóng vai trò là một thủ pháp. Điều gì làm nên giá trị đích thực của tác phẩm văn học? Tố Hữu từng nói: “Cuộc đời là điểm khởi đầu và điểm đi tới của văn chương”, Thạch Lam đã từng nói: “Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thể giới xấu xa, tàn nhẫn, vừa làm cho tầm hồn người đọc trong sạch hơn, phong phú hơn”. Theo quy luật của quá trình sáng tạo, tác phẩm nghệ thuật không kết thúc ở trang cuối, mà đó là lúc nó cuộc sống của nó thật sự bắt đầu, là lúc nó, thông qua bạn đọc, đi vào đời sống, và cải tạo cuộc sống. Văn học cải tạo cuộc sống để thực hiện chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ của mình, thông qua những cung bậc, tình cảm, tư tưởng mà mình gửi gắm. Chủ nghĩa Mác cho rằng: “Vũ khí phê phán, không thể thay thế phê phán bằng vũ khí, chỉ có những lực lượng vật chất mới có thể đánh đổ được lực lượng vật chất”. Văn học, một lực lượng phi vật chất, sẽ tác động vào một lực lượng vật chất khác, đó là con người. Thông qua văn học, con người được mở rộng đầu óc, được rèn luyện để có một nhân sinh quan tiến bộ, thấu hiểu cuộc sống, thấu hiểu chính bản thân mình, bứt phá khỏi giới hạn không gian và thời gian để được sống nhiều hơn, phong phú hơn với nhiều cuộc đời khác, trái tim họ được rung để từ đó có động lực, có sức mạnh, có khao khát, có lý tưởng cải tạo cuộc sống. Như vậy ta thấy rằng, giá trị đích thực của một tác phẩm văn học, trước hết nằm ở chiều sâu tư tưởng và tình cảm của nó, tiếp theo sau đó mới đến hình thức, thủ pháp nghệ thuật.
Nói vậy, không có nghĩa ta phủ nhận vai trò của thủ pháp nghệ thuật. Nội dung và hình thức là hai mặt không thể tách rời, nội dung là nội dung của hình thức, hình thức là hình thức của nội dung. Yếu tố cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương cũng đã chứng tỏ được là một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, bộc lộ được hết chiều sâu tư tưởng của tác nhà thơ. Cụ thể là, thông qua yếu tố cái tục, bút pháp trào phúng được hiện lên mãnh liệt, yếu tố cái cười và yếu tố đả kích được đẩy lên đỉnh điểm, khiến đối tượng bị đả kích đau điếng, tức tối, nhưng không thể làm gì khác hơn là tâm phục, khẩu phục.
Mặt khác, thơ Hồ Xuân Hương tục mà thanh: yếu tố cái tục chỉ là cách để diễn đạt lòng khát khao sống, của sự thức tỉnh ý thức cái tôi, sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp con người.
Với tư cách là một nghệ thuật sáng tạo cá thể mang tính đặc thù, văn chương đòi hỏi cái tôi của mỗi người nghệ sĩ. Gorki từng khuyên các nhà văn trẻ: “Anh có thể học ở bất kì nhà văn nào, nhưng nếu không có giọng điệu riêng, anh không bao giờ là nhà văn cả”, Nam Cao nói: “Văn học không cần những người thợ khéo tay, làm theo những kiểu mẫu đưa cho, văn học cần một người biết đào sâu, khơi những nguồn chưa ai khơi, tìm ra những gì chưa có”. Ta có thể thấy, mỗi nhà văn, để thành công và ghi dấu trong lòng bạn đọc, cần phải định hình cho mình một phong cách riêng, một thứ vân tay nghệ thuật không thể nhầm lẫn, không lặp lại người khác, và không lặp lại chính mình. Với các nhà văn trong đại thế kỉ XVIII, sự thức tỉnh của cái tôi mạnh mẽ đã làm nến những cá tính đặc biệt trong văn học, khiến họ có những vị trí quan trọng trong tiến trình văn học của Việt Nam. Với Hồ Xuân Hương, yếu tố cái tục như một thứ vân tay nghệ thuật, làm nên đặc trưng phong cách của bà. Yếu tố cái tục, về một phương diện nào đó, chính là biểu hiện của sự thức tỉnh cái tôi, là biểu hiện cho những phong cách độc đáo, mới lạ.
Mặt khác, yếu tố cái tục còn là chìa khóa để khám phá vẻ đẹp cơ thể nữ. “Cái đẹp cứu chuộc thế giới” Dovtoiepsky, văn học là quá trình sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Tìm đến văn học, là tìm đến cuộc hành trình đi tìm cái đẹp, khám phá các vẻ đẹp của cuộc đời, để từ đó trái tim con người rung lên những khoái cảm thẩm mỹ, để trau dồi khả năng cảm thụ cái đẹp, và đỉnh điểm là khả năng sáng tạo cái đẹp. Cái đẹp trong văn học có nhiều dạng thức khác nhau, dù có những dạng thức tưởng như khó chấp nhận nhất. Hình tượng cơ thể nữ, đặt trong bối cảnh xã hội phong kiến, là một cái đẹp như vậy. Đó là lí do người ta quy chụp cho nó cái tục. Nhưng nếu cảm nhận nó bằng đôi mắt xanh của nghệ thuật, ta chỉ thấy một vẻ đẹp thiên tính nữ vĩnh cửu, ta thấy một sức sống tràn trề, một khả năng sinh sản và tái tạo vô hạn của cuộc sống. Nếu cảm nhận được cái đẹp ấy – ta lại thấy đó là cái thanh.
Thơ Hồ Xuân Hương tục mà thanh – thanh mà tục, trong tục có thanh, trong thanh có tục. Chính cái yếu tố tục – thanh và hình tượng song quan đã biến thơ Hồ Xuân Hương thành những tấm gương chiếu yếu rọi thẳng vào tâm hồn con người. Người đọc sẽ có lúc cảm thấy khó khăn khi tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương. Có nhà nghiên cứu đã cho rằng, khi tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương họ đã thất bại ngay từ đầu, vì có những địa hạt thầm kín họ chỉ có thể cảm nhận, mà không thể gọi tên ra, chỉ cần dùng từ ngữ mà chạm vào địa hạt ấy, thì đã là một sự thất bại. Như vậy đấy, sự cảm nhận ở đây, theo chừng mực nào đó, liệu có thể so sánh với giây phút đốn ngộ của thơ Thiền, chúng đều có những điều rất thanh, rất thuần khiết ẩn sâu bên trong, mà chỉ có thể cảm nhận một cách cảm tính, bằng trực giác, chứ không thể dùng lí trí, hay ngôn từ.
Yếu tố tục và thanh trong thơ Hồ Xuân Hương cũng mang những ý nghĩa hết sức lớn lao. Thứ nhất là ý nghĩa về mặt xã hội, thơ Hồ Xuân Hương chính là một cách đấu tranh quyết liệt, táo bạo và khôn khéo của nữ sĩ họ Hồ trước hệ tư tưởng phong kiến. Chuyện phòng the ân ái, trong quan niệm phương Đông, vốn dĩ không phải là chuyện nên mang ra để bàn tán công khai. Thế nhưng cái xã hội ấy cứ kìm kẹp con người, cấm con người cả những nhu cầu bản năng nhất, cướp đi tự do của con người. Trong khi ấy, bọn hiền nhân quân tử, bọn vua chúa phong kiến, những kẻ đại diện cho xã hội, thì đeo lên mình mặt nạ đạo đức giả, ở bên trong vẫn đang vi phạm trắng trợn những điệu lệ mà mình rao giảng. Chính vì thế, bọn chúng càng cấm, càng không muốn nói, Hồ Xuân Hương càng nói, càng đụng chạm. Mà cách nói song quan, ỡm ờ mới đặc sắc làm sao! Tôi cứ nói nước đôi, nếu tâm anh trong sạch, anh sẽ thấy nó trong sạch, nếu tâm anh đen tối, anh sẽ thấy nó đen tối, cách hành xử của anh, sẽ cho biết anh là ai. Phải chăng vì lẽ đó, mà thơ Hồ Xuân Hương đã vượt qua vòng kiểm duyệt của phong kiến, và được nhân dân lưu truyền, bảo vệ qua con đường trí nhớ?
Mặt khác, về mặt nội dung tư tưởng, yếu tố cái tục chính là biểu hiện của một tấm lòng khao khát sống, khao khát hạnh phúc, khao khát tự do của chính bản thân nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhưng đồng thời đó cũng là lời thay mặt cho toàn thể phụ nữ trong xã hội, cất lên tiếng nói đòi quyền sống cho chính họ. Ở điểm này, thơ Nôm Hồ Xuân Hương, thông qua thủ pháp cái tục, đã chạm đến tinh thần nhân văn cao cả của văn học. Chính tinh thần nhân văn ấy khiến cho tác phẩm có giá trị bất diệt, là tác phẩm của mọi thời, mọi người.
HIỆN TƯỢNG TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƯƠNG (PHẦN 3)
NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƯƠNG
Để tạo nên hiệu quả trào phúng trong các tác phẩm, nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện vào loại bậc thầy của Hồ Xuân Hương là một yếu tố quan trọng không thể thiếu. Xứng đáng với danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm”, Hồ Xuân Hương đã biết vận dụng ngôn ngữ bình dân một cách tài tình và điêu luyện, từng từ, từng chữ sử dụng đều đắt giá và có hiệu quả nghệ thuật cao. Trước hết phải kể đến việc bà sử dụng thể thơ trong các sáng tác của mình. Trong thơ Hồ Xuân Hương, thể thất ngôn bát cú hay tuyệt cú của Đường luật của Trung Quốc đã được Việt hóa để trở thành những thể thơ của nhân dân quần chúng. Biểu hiện của sự việt hóa đó như sau:
Thứ nhất, lời thơ như lời nói cửa miệng, không có vẻ gì là thông thái. Câu thơ đầy tính khẩu ngữ với các lời vẫy gọi ơi, hỡi, với cách gọi “bọn”, “lũ”, thậm chí cả những lời văng tục “bá ngọ…”. Trên thực tế, có những bài thơ như nhóm bài thơ Mắng học trò dốt là những bài thơ ứng khẩu, lời nói thành thơ, mà thơ như lời nói.
Thứ hai, không sử dụng điển tích điển cố Trung Quốc hay từ Hán Việt, việc sử dụng từ Hán Việt nếu có, là để mỉa mai. Ta thấy rất rõ điều này trong bài “Thiếu nữ ngủ ngày”, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã hạ hai chữ “quân tử” rất đắt ở cuối bài thơ, tương phản và bị hạ bệ một cách ê chề trong hành động lấp ló, không minh bạch “đi thì dở, ở không xong”.
Thứ ba, thơ Hồ Xuân Hương đã thoát khỏi đặc tính ước lệ khắt khe của thể thơ, mỗi bài của XH là một bức tranh, một câu chuyện, một lát cắt cuộc sống, sự vận động trong thơ rất sống động, mạnh mẽ, phải cẩm nhận bằng tất cả các giác quan.
Thứ tư, thơ Hồ Xuân Hương Mang tính chất dân gian ở nét trào phúng, đả kích, phù hợp với nếp nghĩ truyền thống: vừa vui vừa hóm, vừa đùa bỡn, cười vợt, vừa nghiêm trang, vừa nói chơi vừa nói thật…
Bên cạnh việc sử dụng thể thơ độc đáo, nhịp thơ được ứng dụng uyển chuyển, đa dạng cũng làm cho thơ trào phúng Hồ Xuân Hương trở nên hấp dẫn, sức hấp dẫn trước tiên là ở sự đa giọng điệu:
- Thơ tuyệt cú thường là nhịp 4/3 hoặc 2/2/3. Thơ Hồ Xuân Hương nhịp rất uyển chuyển, nhiều câu đã phá vỡ khuôn nhịp cũ mà có lối nghỉ tùy thuộc vào cảnh tình, cũng như dụng ý nghệ thuật.
· Nhịp 2/5
“Chiếc bách/buồn về phận nổi nênh” ècảnh cô đơn, bé nhỏ, cam chịu
(Tự tình III)
“Chiếc bách/buồn về phận nổi nênh” ècảnh cô đơn, bé nhỏ, cam chịu
(Tự tình III)
· Nhịp 2/3/2:
“Nỗi niềm/chàng có biết/chăng chàng” èsự tức tưởi, lời than thân trách phận
(Sự dở dang)
“Nỗi niềm/chàng có biết/chăng chàng” èsự tức tưởi, lời than thân trách phận
(Sự dở dang)
· Nhịp 1/3/3
“Kìa/cái diều ai/ nó lộn lèo”
(Quán Khánh)
“Kìa/đền thái thú đứng cheo leo” )è Nhịp thơ cho ta hình dung sự chỉ trỏ một cách cụ thể.
(Quán Khánh)
“Kìa/đền thái thú đứng cheo leo” )è Nhịp thơ cho ta hình dung sự chỉ trỏ một cách cụ thể.
(Đề đền Sầm Nghi Đống)
Cùng với việc sử dụng thể thơ, nhịp thơ, cách xử lí chất liệu ngôn từ của Hồ Xuân Hương cũng vào loại bậc thầy.
Thứ nhất, từ ngữ bà sử dụng rất hiểm hóc, hiểm hóc một cách tự nhiên, không mài dũa, trau chuốt. Đó là công cụ đánh bại kẻ thù , đánh mạnh, đánh lắt léo, đau mà đối phương không dám kêu, chỉ dám ngậm miệng căm tức. Như bài Mắng học trò dốt II, là một bài thơ ứng khẩu, chỉ cần một chữ “phường lòi tói” thôi là đã cho thấy hết bản chất ngu dốc mà thích khoe khoang của bọn học trò dốt, đồng thời cho thấy cái khinh miệt của nữ nhà thơ đến hạng người này. Cách sử dụng ngôn từ ở đây rất tự nhiên, như câu cửa miệng, mà đắt giả, hiểm hóc vô cùng.
Thứ hai, Từ ngữ hết sức gợi tả: trăng thu thì “đỏ lòm lom”, nước hay gió thì “vỗ phập phòm”, “rơi lõm bõm” . Bà thường xuyên sử dụng từ láy, sử dụng rất tài tình.
Không thể không kể đến lối nõi ỡm ờ, nói lái như trong các truyện cười của dân gian, khi cần có thể văng tục:
“Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo”
(Chùa Quán Sứ)
“Đầu sư há phải gì… bà cốt
Bá ngọ con ong bé cái nhầm.
(Sư bị ong châm)
“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”
(làm lẽ)
Khả năng mô phỏng âm thanh trong thơ Hồ Xuân Hương cũng rất tài tình:
“Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
Nó bảo nhau rằng ấy ái uông.”
(mắng học trò)
“Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha”
(Sư hổ mang)
Nó bảo nhau rằng ấy ái uông.”
(mắng học trò)
“Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha”
(Sư hổ mang)
Một điểm quan trọng trong việc sử dụng ngôn từ của Hồ Xuân Hương đó là hiện tượng xưng tên trong tác phẩm:
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi”
(Mời trầu)
Này của Xuân Hương mới quệt rồi”
(Mời trầu)
Việc xưng tên trong tác phẩm chính là biểu hiện rõ ràng nhất của việc thức tỉnh cái tôi cá nhân, và thoát li dần dần khỏi thi pháp trung đại. Đặc trưng thi pháp trung đại là phi ngã, coi trọng cái ta, cái tôi cá nhân không được nhắc đến, chứ đừng nói xưng tên trong bài thơ. Sự sụp đổ của chế độ phong kiến, cùng với sự biến đối tư tưởng xã hội đã tạo điều kiện cho cái tôi thức tỉnh, và thời kì này cũng không ít nhà thơ đã bắt đầu đưa tên vào tác phẩm. Chúng ta có Nguyễn Du: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”, hay Nguyễn Công Trứ: “Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng”. Là một người phụ nữ, vốn bị coi rẻ trong xã hội, đặt ngang với hiện tượng xưng tên của các nam thi sĩ trên, vị thế của Hồ Xuân Hương càng trở nên đặc biệt. Còn một điểm cần lưu ý nữa: Nếu các nhà thơ nam kia chỉ xưng tên hiệu, thì Xuân Hương đã xưng tên thật, cách khẳng định còn có phần mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn.
Như vậy, việc xưng tên trong thơ Hồ Xuân Hương chính là biểu hiện của một cái tôi ngang tàn, mãnh liệt Hồ Xuân Hương. Nhưng không chỉ có thế, cùng với sự xuất hiện của cái tôi Hồ Xuân Hương, thì “thân em” cũng chính thức bước từ ca dao dân ca vào địa hạt của văn học viết. Có lẽ Hồ Xuân Hương là nữ sĩ đầu tiên đặt vấn đề về người phụ nữ ở góc nhìn thứ nhất, là một người phụ nữ, nói về một người phụ nữ, và có lẽ, ở Hồ Xuân Hương, lần đầu tiên “thân em” tội nghiệp của ca dao bước vào địa hạt của văn chương bác học, vẫn giữ nguyên những cảm xúc, nỗi niềm từ ca dao, nhưng đặt trong một lớp vỏ nghệ thuật điêu luyện hơn, sắc sảo hơn.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ, cũng được Hồ Xuân Hương sử dụng linh hoạt đến “ghê người” (từ dùng của Giáo sư Lê Trí Viễn).
HIỆN TƯỢNG TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƯƠNG (PHẦN 2)
NHỮNG ĐỐI TƯỢNG TRÀO PHÚNG TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
Xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX đã đánh dấu sự mục ruỗng của xã hội phong kiến từ trong ra ngoài, kéo theo đó là sự xuất hiện của những “quái thai xã hội” – những kiểu người dị dạng, giả dối, đạo đức giả, chà đạp lên những giá trị truyền thống tốt đẹp. Những kiểu người này chính là đối tượng đả kích chính của bút pháp châm biếm. Bằng cái nhìn sắc xảo bao quát cuộc sống, ngòi bút châm biếm Hồ Xuân Hương trở nên giàu sức chiến đấu khi đã vạch trần, tố cáo, đả kích đủ mọi tầng lớp tiêu cực trong xã hội.
Ngòi bút ấy hướng đến trước hết là giai cấp thống trị, cụ thể là bọn vua quan phong kiến. Sự suy tàn của xã hội phong kiến có gốc rễ từ sự thối nát, mục ruỗng từ bọn giai cấp thống trị. Đó là những tên vua ăn chơi sa đọa, không màng đến nhân dân. Đó là bọn quan tham ô, vô lại, làm nhũng nhiễu cuộc sống của người dân vô tội.
Cái cười cợt của Hồ Xuân Hương với bọn vua chúa, quả thực rất sâu cay:
Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.
(Vịnh cái quạt II)
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.
(Vịnh cái quạt II)
Thủ pháp song quan gắn với yếu tố cái tục đã tỏ ra là một thủ pháp châm biếm xuất sắc. Ở đây, những cánh cửa ẩn nghĩa hiện ra, hình thành trong tâm trí người đọc hai hình ảnh: một hình ảnh của cái quạt giấy, một hình ảnh cơ thể người thiếu nữ. Mười bảy hay mười tám, ấy là số nan của quạt giấy, nhưng cũng là ẩn dụ cho tuổi xuân của người thiếu nữ. “Cay” lại là cái suốt của quạt giấy, hải đầu có mảnh kim loại (nhài quạt) hình tròn để chốt các nan lại ở hai nan cái, nhưng cũng gợi lên những liên tưởng về cơ quan sinh dục của con người. Đến đây người đọc không khỏi có cái cười khoái trá. Hóa ra, cái vua thích, chỉ là cái thứ “mỏng dày từng ấy, chành ba góc”, cũng là cái “Chành ra ba góc da còn thiếu/Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.” trong bài Vịnh cái quạt I. Cách diễn đạt “Chúa dấu vua yêu” với sự khẳng định “một cái này” đầy sắc sảo, bén nhọn. Vua chúa chỉ yêu một thứ ấy, có thèm để tâm đến những thứ khác đâu? Trong mắt chúa, trong mắt vua, giang sơn, xã tắc, cũng chẳng thể bằng cái vật mỏng da thừa thịt ấy! Thế chẳng phải là mục ruỗng, là suy đồi hay sao? Mục ruỗng, suy đồi từ tận gốc rễ.
Mỗi xã hội đều cần một hệ tư tưởng để làm công cụ cho giai cấp thống trị. Trải qua hơn ba thế kỉ, hệ tư tưởng Nho giáo của xã hội phong kiến cũng đã bộc lộ cả những mặt mạnh, mặt yếu của mình. Đến thời kì Hồ Xuân Hương sống, hệ tư tưởng Nho giáo đã sụp đổ từ tận gốc, bởi chính những kẻ rao giảng, truyền bá nó. Bọn hiền nhân quân tử đã phạm một cách trắng trợn vào những đạo nghĩa thánh Hiền. Sự rao giảng của chúng trở thành thói đạo đức giả đáng khinh. Và tất nhiên, ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương không bỏ qua chúng:
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong.
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong.
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Bài thơ trước hết là sự tôn vinh vẻ đẹp cơ thể nữ. Đó là thứ vẻ đẹp căng tràn sức sống, thể hiện sự trân trọng và nhận thức sâu sắc về giá trị người nữ. Cái hay của Hồ Xuân Hương là dựa vào cái vẻ đẹp đáng trân trọng ấy để tạo ra một thứ tình huống nghịch lý, trớ trêu, thử thách bọn “quân tử hiền nhân”. Và rõ ràng, khi vương vào bẫy, cái điệu bộ của kẻ quân tử thật buồn cười:
“Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì dở ở cũng không xong”
Đi thì dở ở cũng không xong”
Thơ Hồ Xuân Hương là thơ Việt hóa tối đa, mỗi khi sử dụng từ Hán Việt thì thường có hàm ý mỉa mai. Ở đây, chữ “quân tử” càng trang trọng bao nhiêu, ngạo nghễ bấy nhiêu, khi đặt vào tình huống này, lại càng nhục nhã, ê chề bấy nhiêu. Hiền nhân quân tử đầu đội trời chân đạp đất theo như sách Thánh hiền, lại “dùng dằng đi chẳng dứt” – điệu bộ lấm lét như một tên trộm. Câu thơ như cái nhìn cười cợt sắc bén của Hồ Xuân Hương khi đã đánh trúng vào “tim đen” của chúng, lí giải được cái tâm tính tầm thường của chúng. Tình thế này là do ai? Chẳng phải do chính thói đạo đức giả của chúng hại chúng đấy sao? Quả là nữ sĩ họ Hồ đã ra một cú “gậy ông đập lưng ông” hết sức cao tay, tài tình.
Bên cạnh bọn “hiền nhân quân tử” đạo đức giả, ngòi bút Hồ Xuân Hương còn nhắm đếm một đối tượng khác cũng thuộc giới trí thức Nho học: Bọn học trò dốt. Chính sách cho phép dùng tiền để mua chức vị của triều đình, “cứ tứ phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan thì được thăng chức một bậc, còn những người chân trắng mà nộp 2800 quan thì được bổ tri phủ, 1800 quan thì được bổ tri huyện” (Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim), đã khiến cho việc giáo dục, thi cử thời kì này trở nên hỗn loạn. Chỉ cần có tiền là có thể mua được chức, quyền, đồng tiền chiếm thế thượng phong thâu tóm tất cả, các giá trị đạo đức bị chà đạp, bọn quan lại vì thế càng nhũng nhiễu dân lành, nhất là bọn quan hoạn. Cũng trong tình cảnh thi cử rối ren ấy, người có tài thì thì bị đánh rớt oan, còn bọn bất vài nhưng có tiền thì được xướng danh bảng vàng. Chính điều này đã làm xuất hiện một loại người “quái thai” trong xã hội: Bọn học trò dốt, dốt nát nhưng lại tự cao tự đại, vẫn cứ tự mãn vào con chữ của mình, tự mãn rằng mình là rường cột nước nhà. Với loại người này, Hồ Xuân Hương vừa ghét, vừa coi thường. Nhóm bài thơ “Mắng học trò dốt” đã thể hiện rõ cái nhìn khinh khi của nữ sĩ với lũ học trò ngu dốt nhưng kiêu căng, ngạo mạn.
Trong các giai thoại tương truyền về Hồ Xuân Hương, có ý kiến cho rằng bài “Mắng học trò dốt – I” ra đời khi Hồ Xuân Hương đi thăm chùa Trấn Quốc về, đang lững thững bên bờ hồ Tây thì thấy mấy thần khóa bước rảo lên theo sát ở đằng sau. Rồi các thầy giở giọng chớt nhả ra trêu ghẹo nàng. Có thầy lại hứng trí tung cả chữ nghĩa ra nữa. hồ Xuân Hương thấy họ trêu ghẹo thì vẫn im lặng, nhưng đến khi nghe cái thơ thẩn nửa mùa ấy thì không nhịn được nữa, nàng mới quay lại, đọc dồn cho các thầy một bài thơ rằng:
“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa!”
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa!”
Bấy giờ, các thầy khóa nghe giọng thơ thì biết ngay là Hồ Xuân Hương. Riêng thầy đọc thơ lúc nãy thì thẹn chín người.
Bài “Mắng học trò dốt - II” cũng ra đời trong một hoàn cảnh thú vị không kém. Cũng một lần đi thăm chùa Trấn Quốc, Hồ Xuân Hương nhìn lên trên vách chuông, thấy bài thơ của một anh học trò nào đó đề lên. Câu kẹo ý tứ chán mớ đời. Thế mà cũng vác bút, vạch hàng để khoe ngu với khách vãng lai. Chẳng nói chẳng rằng, cô đề luôn một bài thơ vào khoảng trống bên cạnh:
“Dắt díu nhau lên trước cửa đền
Cũng đòi học nói, nói không nên.
Ai về nhắn nhủ phường lòi tói,
Muốn sống đêm vôi quét trả đền.”
Cũng đòi học nói, nói không nên.
Ai về nhắn nhủ phường lòi tói,
Muốn sống đêm vôi quét trả đền.”
Điểm chung đặc biệt giữa hai bài thơ đó là sự ứng tác gần như tức thời, “xuất khẩu thành thơ” của nữ sĩ. Đó là tài năng thiên phú, nhưng đồng thời đó cũng là sự bùng phát của cảm xúc khinh bỉ, coi thường đối với đối tượng châm biếm. Trong những bài thơ này, Hồ Xuân Hương luôn xuất hiện như một vị bề trên, xưng “chị”, với giọng điệu xách mé, khinh khi của một kẻ ở vị trí cao hơn. Trong mắt bà, lũ học trò dốt chẳng qua chỉ là “lũ ngẩn ngơ”, “phường lòi tói”, cái thơ văn chữ nghĩa của chúng chẳng qua là trò trẻ con, ngựa non háu đá “Ong non ngứa nọc châm hoa rữa/Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa!”, chẳng qua chỉ là thứ học đòi kém cỏi “Cũng đòi học nói, nói không nên”. Bài thơ ngắn gọn, xúc tích, ứng khẩu thành thơ, ấy vậy mà giọng điệu ngạo nghễ, cái nhìn khinh khi của một kẻ có tài chiếu xuống bọn bất tài, cũng sắc bén và có sức đả thương như dao, kiếm, khiến đối tượng châm biếm nhục nhã, ê chề, nhưng đành tâm phục, khẩu phục.
Là một cái tôi khao khát sống mãnh liệt, Hồ Xuân Hương ghét cay ghét đắng những kẻ đạo đức giả, kìm hãm quyền tự do của con người như bọn “hiền nhân quân tử”, đồng thời, nàng cũng ghét cả những kẻ tự tách mình ra khỏi đời sống, hay nói đúng hơn, là lấy cớ đi tu để tách mình ra khỏi đời sống, nhưng bên trong thì vẫn đầy những ham muốn đồi bại, dung tục, làm xấu mặt tôn giáo mà mình đang phụng sự. Về đề tài sư hổ mang, tiếng thơ Hồ Xuân Hương cũng có những dòng cười cợt gay gắt, chua cay. Nàng đã tài tình dựng lại một bức tranh chốn tu hành hỗn tạp, rối loạn, không ra thể thống gì:
“Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm
Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.”
Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.”
Món đồ dâng lên cũng kiếng thì bày la liệt như thể món hàng ngoài chợ. Người tu hành thì không có dáng vẻ thanh tịnh của kẻ chân tu, mà lại thập thò, lén lút, nấp sau lưng “sáu bảy bà”. Đặc biệt không gian hỗn độn được đặc tả tài tình ở hai câu thơ cuối:
“Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha”
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha”
Tiu cảnh, chũm chọe là hai thức nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam. Tiu Cảnh là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt, gồm 2 chiếc thanh la cỡ nhỏ làm bằng đồng thau, đường kính khoảng 10 cm, một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao, với hai âm cao thấp cách nhau quãng nǎm đúng. Tiu cảnh được treo trong hai vòng tròn của một chiếc khung có tay cầm bằng gỗ. Khi biểu diễn nhạc công tay trái cầm tiu, tay phải cầm que tre có mấu gõ vào mặt thau tạo ra âm thanh cao, vang, lảnh lót. Tiu cảnh tham gia trong ban nhạc chầu vǎn, dàn bát âm, ban nhạc cúng lễ.
Chũm choẹ còn gọi là não bạt, là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt. Chũm chọe làm bằng hợp kim đồng thiếc, gồm hai chiếc giống nhau, hình tròn như chiếc đĩa, có núm để cầm. Khi đánh chũm chọe, hai tay cầm hai núm, dập hai mặt vào nhau, có lúc dập chéo xuống, chéo lên. Người sử dụng chũm chọe vừa đánh, vừa múa. Âm thanh chũm chọe to, vang, hơi chói tai. Chũm chọe được sử dụng trong dàn nhạc của cung đình, trong sân khấu tuồng, cải lương, trong đám rước sư tử và tham gia trong dàn nhạc dân tộc tổng hợp hoà tấu. Hai thức nhạc khí ấy được đặt tên theo âm thanh mà nó tạo ra. Ở đây, việc sử dụng tiu cảnh, chũm chọe vừa với tư cách là danh từ, vừa với tư cách là từ tượng thanh, kết hợp với biện pháp tách từ, đặt trong điệp ngữ “khi…khi…khi…” và nhịp 2/2/3 gấp gáp, ồn ã đã góp phần dựng nên một khung cảnh cảnh hỗn loạn đầy những tạp âm. Câu thơ sau đối rất chỉnh với câu thơ trước, cũng điệp ngữ “giọng… giọng… giọng…” nhịp 2/2/3và những từ mô phỏng âm thanh của con người “hì, hỉ, hi ha” đã góp phần làm tăng sự hỗn loạn của bức tranh lên đỉnh điểm. Tiếng người, tiếng vật, hỗn loạn, tạp nham… có còn đâu là chốn tu thành hành thanh tịnh, còn đâu chốn cửa Phật thiêng liêng?
Với bọn sư không lo tu hành, ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương có những sự khắc họa hiểm hóc, tài tình:
“Chẳng phải Ngô chẳng phải ta
Đầu thì trọc lóc áo không tà.”
Đầu thì trọc lóc áo không tà.”
Bút pháp giễu nhại, biếm họa đã dựng nên bức chân dung các vị sư hổ mang một cách trớ trêu: Chẳng phải giặc, cũng không phải quân mình. Một cách oái oăm, bà đặt sư vào một mối quan hệ đối lập sống còn xưa nay, Ngô – ta (quần thù – đất nước), và cười khẩy khi khám phá ra những nét cá biệt, chẳng hiểu là Ngô hay ta của sư: đầu trọc – thì chẳng phải Ngô rồi, mà áo truyền thống của ta là áo có tà, áo sư có tà đâu? Việc đẩy đối tượng châm biếm vào một vị thế lai căng, chông chênh ở giữa giống như một cái cười tinh quái. Ví với giặc, dù không phải là giặc, thì vẫn là một sự sỉ nhục. Mà bảo sư không phải dân mình, cũng lại là một sự sỉ nhục khác.
Thậm chí, cái căm ghét của nữ sĩ họ Hồ có khi bật lên thành tiếng văng tục:
“Đầu sư há phải gì… bà cốt
Bá ngọ con ong bé cái nhầm”.
Bá ngọ con ong bé cái nhầm”.
Ở đây, cũng phải thấy rõ rằng, Hồ Xuân Hương không hề đả kích Phật giáo, không hề đặt mình ở phía đối lập với tôn giáo. Nhưng Phật giáo thời kì này, cùng với sự biến động, nhiễu loạn của xã hội, cũng đã xuất hiện những phần tử xấu, bôi nhọ hình ảnh thanh tịnh của chốn cửa thiền. Ngòi bút của nữ sĩ hướng tới châm chích, đả kích các đối tượng ấy, cũng là một cách đòi lại sự trong sạch cho chốn chân tu. Lí do cao hơn cả, như đã nói ở trên, đó là bởi cái tôi khao khát sống của Hồ Xuân Hương không cho phép bà khoanh tay làm ngơ trước những kẻ rời bỏ cuộc sống, trốn tránh cuộc sống, mượn danh thanh bạch của chốn chân tu để làm trò đồi bại, bỉ ổi, nên đã khiến hồn thơ sắc bén, cá tính của bà nảy sinh những vần thơ châm biếm rấu sâu cay như thế.
Ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương luôn thể hiện một cái tôi mạnh mẽ, bản lĩnh. Sự khẳng định ấy thể hiện trong việc nhận thức giá trị bản thân, khẳng định giá trị bản thân, thể hiện trong cách nhìn của bà về các thói hư tật xấu trong đời sống, và còn thể hiện ở lòng tự tôn dân tộc. Trong bài Đề đền Sầm Nghi Đống, thông qua việc châm biếm, đả kích một tên tướng giặc bại trận, cái tôi Hồ Xuân Hương đã được bộc lộ rất mạnh mẽ:
“Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Đền Thái thú ở đây chỉ đền Thái thú Sầm Nghi Đống. Họ Sầm là tướng của Tôn Sĩ Nghị cầm đầu một đạo quân nhà Thanh sang xâm lược ta năm Kỉ Dậu (1789). Khi bị vua Quang Trung tấn công, quân Thanh thua chạy, Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Sau này Hoa Kiều lập đền thờ Sầm Nghi Đống trên gò Đống Đa – Hà Nội. Dù ở bất cứ ngôi đền nào, thì thái độ của người ghé thăm thường là sự tôn kính. Thế nhưng ở đây, thái độ Hồ Xuân Hương thì hoàn toàn khác hắn. Đầu tiền là cái “ghé mắt”, ghét mắt – một cái nhìn nửa vời, không chủ ý, một cái nhìn vô tình thấy, đồng thời trong đó còn hàm chứa sự tự cao, và cả sự khinh khi với kẻ đối diện. Ở nơi thờ tự tôn nghiêm, ấy vậy mà thơ nữ sĩ họ Hồ lại có chỉ từ “kìa”, đứng tách biệt ra khỏi với câu thơ bằng nhịp 1/3/3 – đó là cái chỉ trỏ, có hàm ý coi thường. Như vậy, tư thế của Hồ Xuân Hương ở đây là một tư thế hiên ngang, ngạo nghễ, có phần ngang tàng. Mà quả thật như vậy, nàng đã không ngại ngùng khẳng định cái tôi của mình:
“Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Nàng đã không ngại ngần khẳng định khí phách của mình, nếu làm nam nhi, nàng còn có thể làm nhiều hơn thế. Cách sử dụng cụm “sự anh hùng” cũng đầy tính châm biếm, mỉa mai. Người anh hùng chân chính làm nên “sự nghiệp anh hùng”, nó to lớn, đồ sộ, khác hẳn với “sự anh hùng”, nghe nhẹ hều, mà có bề gì đấy như giả dối, như một dạng anh hùng rơm. Đã “sự anh hùng”, lại còn “há bấy nhiêu”, câu hỏi tu từ kết bài đầy tính thách thức, đầy chất mỉa mai. Ở đây ta còn thấy xuất hiện vẻ đẹp của lòng tự tôn dân tộc, qua việc sỉ nhục, khinh bỉ một tên giặc ngoại xâm bại trận.
Tiếng nói của Hồ Xuân Hương là tiếng nói của cái tôi khao khát cuộc sống, của cái tôi cá nhân ngang tàng, ngạo nghễ, sẵn sàng khẳng định bản thân. Đúng, nhưng tiếng nói ấy còn có lục vượt ra khỏi khuôn khổ của cái tôi để trở thành tiếng nói của cái ta – tiếng nói chung cho thân phận người phụ nữ của thời đại. Bên cạnh những tiếng kêu than đau đớn cho số phận con người, thì Hồ Xuân Hương còn góp tiếng nói mạnh mẽ để đấu tranh, đòi quyền sống cho người phụ nữ bằng ngòi bút trào phúng của mình. Nàng đã lên tiếng bênh vực cho một cô gái trót lâm vào cảnh “Không chồng mà chửa”:
“Cả nể cho nên hóa dở dang,
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có, nhưng mà có, mới ngoan!”
(Không chồng mà chửa)
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có, nhưng mà có, mới ngoan!”
(Không chồng mà chửa)
Bài thơ giống như một lời tuyên ngôn bảo vệ hạnh phúc của người phụ nữ, đồng thời còn là một tiếng lòng đồng điệu, bày tỏ hết tâm tình của người con gái yêu bằng cả trái tim, dâng hiến tất cả, để rồi bị phụ tình. Hồ Xuân Hương đã rất mạnh mẽ bảo vệ người phụ nữ ấy: “Quản bao miệng thế lời chênh lệch/Không có, nhưng mà có, mới ngoan”. Ấy là cái ý tứ mượn từ ca dao: “Không chồng mà chửa mới ngoan/Có chồng mà chửa thế gian chuyện thường”. Tuy vậy, thấp thoáng đâu đó trong bài thơ còn có cái cười nhẹ, một cái cười chê trách. Không phải là ngẫu nhiên mà bài thơ xuất hiện những câu hỏi “chàng có biết chăng chàng”, “chàng nhớ chửa” . Đó là những lời dò hỏi tâm tình, đó là lời nhắc nhớ, mà đó cũng là lời oán trách. Một cái cười nhẹ mỉa mai oán trách của nữ sĩ họ Hồ. Chàng quân tử kia ơi, chàng nam nhi kia ơi, sao chàng có gan làm, mà không có gan chịu, sao chàng dám yêu, mà không dám nhận trách nhiệm, sao chàng nỡ bỏ người con gái dành tất cả cuộc đời cho chàng? Thế thì chàng còn đáng mặt nam nhi không, thế thì chàng còn mặt mũi nào mà sống trong trời đất này nữa? Cái cười mỉm ấy của Hồ Xuân Hương, hiền, nhưng chua xót, nhẹ nhàng mà thấm thía.
Các lễ giáo phong kiến cùng với tư tưởng trọng nam khinh nữ và chế độ đa thê đã mang lại cho người phụ nữ biết bao cay đắng, tủi nhục. Sinh thời, Hồ Xuân Hương cũng là nạn nhân của việc làm lẽ, cũng chịu bao cay đắng, tủi hờn, đến nỗi phải thốt lên: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Bên cạnh tiếng chửi, cũng có cả những tiếng cười cợt, như bài “Khóc tổng cóc”:
“Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”
Tiếng cười nảy sinh từ phép chơi chữ tài tình của nữ sĩ họ Hồ, lợi dụng hiện tượng đồng âm của từ, sử dụng sự tương đồng trong các phép ẩn dụ để mang cả họ nhà cóc vào bài thơ: chàng, cóc, bén, nòng nọc, chuộc. Bài thơ khóc chồng, sao lại vui vẻ thế, sao lại mang cả “họ nhà chồng” vào chế giễu như thế, có phải nữ sĩ quá tàn nhẫn không? Có thuyết cho rằng Hồ Xuân Hương làm bài “Khóc tổng Cóc” không phải do tổng Cóc chết mà là sau khi bị người vợ cả ngăn cản, chia rẽ. Vì thế Hồ Xuân Hương mới đưa tên cả họ hàng nhà Cóc vào bài thơ chế giễu. Như vậy đấy, ngay trong tình cảnh đáng thương, hẩm hiu của mình nữ sĩ họ Hồ vẫn có những dòng thơ cười cợt, châm biếm sâu cay. Chẳng hiểu tổng Cóc đọc những vẫn thơ này sẽ cảm thấy thế nào, nhưng người đọc thì thấy khâm phục một tài năng Hồ Xuân Hương, một tấm lòng ham sống của Hồ Xuân Hương. Vợ cả ngăn cản, chia rẽ, không làm gì được, nàng xem như chồng đã chết, lại còn làm cả một bài thơ khóc chồng, nhưng khóc đâu chẳng thấy, chỉ thấy cười cợt, giễu mỉa. Trong hoàn cảnh đáng thương của chính mình mà vẫn có thể cười cợt, bông lơn, đó cũng chính là khí phách “nín đi kẻo thẹn với non sông” của Hồ Xuân Hương vậy.
Trong các loại trào phúng, thì yếu tố cái hài là yếu tố nhẹ nhàng nhất, nó chỉ là một cái cười nhẹ nhàng, cho vui, cho khuây khỏa, nó là cái cười không làm người ta mích lòng, cũng không phải để đả kích, chiến đấu, hay hạ bệ ai cả. Với những đề tài về người phụ nữ, ngòi bút trào phúng Hồ Xuân Hương cũng chọn cái hài hước nhẹ nhàng ấy làm công cụ bày tỏ, tiêu biểu là qua nhóm bài thơ bỡn người phụ nữ khóc chồng:
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì
Thương chồng nên nỗi khóc tì ti
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
Cay đắng chàng ơi vị quế chi
Thạch nhũ, trần bì sao để lại
Quy thân, liên nhục tẩm mang đi
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ
Sinh ký chàng ơi, tử đắc quy.
(Bỡn bà lang khóc chồng)
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em bé,
Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung.
(Dỗ người đàn bà khóc chồng)
Thương chồng nên nỗi khóc tì ti
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
Cay đắng chàng ơi vị quế chi
Thạch nhũ, trần bì sao để lại
Quy thân, liên nhục tẩm mang đi
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ
Sinh ký chàng ơi, tử đắc quy.
(Bỡn bà lang khóc chồng)
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em bé,
Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung.
(Dỗ người đàn bà khóc chồng)
Cả hai bài thơ đều mở đầu bằng cụm “văng vẳng tai nghe tiếng khóc”. Rõ ràng, trước nỗi bất hạnh của người phụ nữ, trước nỗi đau của người góa phụ, Hồ Xuân Hương có sự đồng cảm sâu sắc. Nhưng tại sao ở đây lại có sự bỡn cợt? Trước hết, cần điểm lại bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Xã hội phong kiến là xã hội mang nặng tư tưởng Nho giáo, mà người phụ nữ bị kìm cặp trong tam tòng, tứ đức: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Người phụ nữ, nếu chồng chết, phải thủ tiết thờ chồng. Và cái bi kịch của con người nảy sinh ở chỗ ấy: Nếu người góa phụ hẵng còn trẻ, tuổi xanh hẵng còn, chẳng lẽ phải hoài phí tuổi xanh để thờ một người đã chết? Việc tự nguyện, hay không tự nguyện, là lựa chọn của mỗi người, nhưng ta thấy rằng, quan niệm này đã gây ra bi kịch cho không ít phụ nữ. Tiếng khóc ở đây, có lẽ khóc vì thương xót chồng cũng một phần, nhưng phần nhiều là khóc cho thân phận của mình, cho số phận của chính mình. Đau đớn, tủi thân, thì phải khóc. Nhưng có lẽ, khóc, là cam chịu, là đớn hèn, là chịu khuất phục số phận. Phải chăng đó là lí do Hồ Xuân Hương, một cái tôi ngang tàn, không chịu khuất phục cất lên tiếng nói cười cợt? Hẳn là vậy, hơn nữa, Hồ Xuân Hương còn khuyên nhủ họ: “Nín đi kẻo thẹn với non sông”. Cái khí thế mới ngang tàn, ngạo nghễ làm sao? Đương thời cũng có Nguyễn Công Trứ: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. So với cái chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ, cái khí phách nữ nhi của Hồ Xuân Hương cũng không thua kém gì, thậm chí có phần đặc biệt hơn, đặt trong bối cảnh xã hội trọng nam khinh nữ.
Cái tài tình của Hồ Xuân Hương còn thể hiện ở chỗ, bút pháp trào phúng của bà không chỉ hướng đến con người và các hiện tượng cụ thể trong đời sống, mà ngay cả những hiện tượng siêu nhiên siêu hình, cũng trở thành đối tượng để bà cười cợt, trêu đùa:
“Khen thay con tạo khéo khôn phàm”
(Hang Thánh Hóa)
“Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc”
(Hang Cắc Cớ)
“Rõ khéo trời già đến dở dom.”
(Động Hương Tích)
(Hang Thánh Hóa)
“Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc”
(Hang Cắc Cớ)
“Rõ khéo trời già đến dở dom.”
(Động Hương Tích)
Thiên nhiên tạo hóa trong mắt bà cũng là một con người bình thường để bỡn cợt, cũng khôn phàm, thậm chí ngang hàng để bà cười cợt “khen thay”, có khi thì như một người bạn để bà mắng yêu, cười mát mẻ, gọi là “trời già”, gọi là “dở dom”. Cái chơi chữ “tài xuyên tạc” trong bài “Hang Cắc Cớ” bà sử dụng cũng rất tài tình. Xuyên, tạc, đó là những hành động của người thợ chãm khắc, rất hợp với ngữ cảnh “khen ai đẽo đá”. Thế mà, “xuyên tạc”, lại là hành động bóp méo lời nói của người khác, là một hành động không hay. Cái trêu ngươi của Hồ Xuân Hương là ở chỗ đấy. Cười cợt cả tạo hóa, tự nâng mình lên ngang tầm vũ trụ, đó là biểu hiện đầy ấn tượng của cái tôi cá nhân Hồ Xuân Hương. Đồng thời, nó cũng là một biểu hiện cho một tính cách phóng khoáng, hào sảng, khát khao một cuộc sống tự do, tự tại.
Tóm lại, ngòi bút trào phúng của Hồ Xuân Hương hướng đến đủ mọi đối tượng, đủ thói hư tật xấu trong xã hội, đồng thời cũng rất đa dạng, đa giọng điệu, đa bút pháp. Nghệ thuật trào phúng chính là vũ khí đắc lực nhất của văn học, biến văn học trở thành công cụ cải tạo xã hội, đấu tranh với những điều xấu xa, đồi bại trong xã hội để bảo vệ lẽ phải, công lý, đòi quyền sống cho con người. Tiếng cười trào phúng của Hồ Xuân Hương, thông qua yếu tố cái tục, là thứ “khí giới vừa thanh cao vừa đắc lực mà chúng ta có, để tố cáo vạch trần một xã hội xấu xa, giả dối, làm người đọc phong phú hơn, trong sạch hơn” (Thạch Lam).
HIỆN TƯỢNG TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƯƠNG (Phần 1)
NGUYÊN NHÂN HIỆN TƯỢNG TRÀO PHÚNG HỒ XUÂN HƯƠNG
a.1 Sự sụp đổ của xã hội phong kiến làm nảy sinh những “quái thai” của xã hội, trở thành đối tượng của bút pháp trào phúng.
Tố Hữu đã từng nhận xét: “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương”, văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống, hiện thực cuộc sống chính là nguồn chất liệu dồi dào làm nên nội dung tư tưởng cho tác phẩm. Do vậy, các hiện tượng văn học, dù muốn hay không cũng đều chịu sự tác động của thời đại.
Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, với sự suy tàn của giai cấp thống trị đã làm nảy sinh trong xã hội những kiểu người lố bịch, xấu xa, giả dối, đã chà đạp lên các giá trị truyền thống. Chính những mẫu người này đã trở thành đối đả kích của bút pháp trào phúng, đặc biệt là bút pháp trào phúng của Hồ Xuân Hương.
Thế kỉ XVIII – XIX là giai đoạn khủng hoảng sâu sắc và dữ dội của những mâu thuẫn chất chưa từ trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam.
Khởi đầu là những ông vua “Khoanh tay rũ áo” như Lê Dụ Tông, Lê Thuần Tông, Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông, những ông chúa ăn chơi hưởng lạc như chúa Trịnh Cương, Trịnh Giang, Trịnh Sâm.
Chế độ phong kiến phát triển đến đỉnh cao nhất dưới triều Lê Thánh Tông (XV) thì dần dần đi vào giai đoạn khủng hoảng, suy tháoi. Nội chiến phong kiến Lê – Mạc; Trịnh – Nguyễn phá hoại nguyên trọng sự thống nhất đất nước.
Thế kỉ XVIII nọi chiến không còn, nhưng thỉnh thoảng có một vài mâu thuẫn đáng kể giữa Lê, Trịnh, hoặc ngay nội bộ họ Trịnh cũng có những lục đục tranh quyền đoạt vị. Đàng Trong nạn quyền thần Trương Phúc Loan cũng gây chém giết đổ máu không ít .Đất nước không nơi đâu yên ổn.
1789, phong trào Tây Sơn – Nguyễn Huệ nổ ra với sức mạnh chưa từng thấy đã đạp tan tập đoàn vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, nhà Nguyễn ở Đàng Trong thống nhất đất nước, rồi sau đó tiếp tục đánh đuổi quân Xiêm, quân Thanh.
1802, nhà Nguyễn dựa vào thế lực bọn địa chủ và sự giúp sức của nước ngoài lật đổ triều Tây Sơn còn non yếu, dựng nên một chính quyền cực kì phản động so với nhà Lê trước đó.
Những biểu hiện của sự khủng hoảng:
Lĩnh vực chính trị ngoại giao: giai cấp phong kiến càng trở nên phản động .Lê Chiêu Thống đang tâm rước giặc ngoại xâm về giày xéo quê hương đất nước.
Lĩnh vực giáo dục, thi cử tệ hại. Có thể dùng tiền mà mua chức vị: “cứ tứ phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan thì được thăng chức một bậc. Còn những người chân trắng mà nộp 2800 quan thì được bổ tri phủ, 1800 quan thì được bổ tri huyện” (Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim)
Chính sách thi cử đã làm cho xã hội trở nên nhễu loạn. Đó là một xã hội mà người có tiền là có quyền cai trị, đạo đức và tài năng nghiễm nhiên bị xem thường ,mọi mặt trong đời sống xã hội đều suy thoái trầm trọng, quan lại xu nịnh, tàn bạo, trở thành tai họa cho nhân dân.
Các nhà cầm quyền phong kiến chỉ biết tranh giành quyền lợi và lao vào cuộc sống hưởng thụ. Kinh tế kiệt quệ, nông nghiệp không phát triển là hậu quả của những cuộc phân tranh và vì thế nạn đói tràn lan. Người dân phải gánh chịu hậu quả ghê gớm của gần mọt thế kỉ chiến tranh, rồi lại còn phải oằn lưng trước gánh nặng sưu thuế cho bạn quan tham ô lại ,đã đau thương vất vả lại trăm nghìn đau thương vất vả hơn nữa.
a.2 Sự biến chuyển hệ tư tưởng phong kiến và sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đánh dấu sự xuất hiện mãnh mẽ cái tôi cá nhân trong văn học.
Thế kỉ XVII, do sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa giản đơn và do mở rộng việc buôn bán với các thương nhân phương Tây, Trung Quốc và nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp mà sự lưu thông trao đổi hàng hóa đã được tăng cường và tiền tệ đã bắt đầu có vai trò quan trọng trong đời sống .Xuất hiện tầng lớp mới: tầng lớp thương nhân, thợ thủ công…
Sinh hoạt mua bán đã li khai quan hệ sản xuất phong kiến. Cuộc sống của tầng lớp này là đi đây đi đó tiếp xúc nhiều kể cả với người ngoại quốc nên tư tưởng của họ tương đối tự do phóng túng hơn những ng khác . Họ bắt đầu thấy lễ giáo phong kiến là lạc hậu, Nho giáo phong kiến là trái tự nhiên, là kiềm kẹp, bất công với con người.
Sự có mặt của tầng lớp thự dân cũng như sự phát triển của đô thị phong kiến thời kì này là mầm mống của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, và cũng là mọt trong số những nhân tố trực tiếp tác động đến xu hướng chống phong kiến đòi quyền sống, đòi quyền tự do cá nhân và quyền thể hiện bản ngã, khẳng định cá tính của con người xã hội lâu nay bị đè nén, bức bối nặng nề . Đây chính là nhân tố góp phần làm thay đổi ý thức, tư tưởng xã hội.
Sự thay đổi ý thức, tư tưởng xã hội thể hiện ở sự phá sản chưa từng thấy của hệ ý thức phong kiến Nho giáo:
Bao nhiêu nguyên tắc đều bị vi phạm trắng trợn trước hết từ trong cung vua phủ chúa, nơi ngự trị những khuôn vàng thước ngọc của chính quyền phong kiến “tam cương, ngũ thường” của Nho giáo bị suy sụp một cách thảm hại: tôi giết vua, con hại cha, tớ phản thầy, anh em giết lại nhau vì ngôi báu, tước vị…
Sự khủng hoảng về lí tưởng của tầng lớp nho sĩ phong kiến: hầu hết các nho sĩ quý tộc có tài năng, đạo đức chân chính đều mang một tâm trạng bế tắc, cho thấy một sự khủng hoảng về lí tưởng (Nguyễn Du, Cao Bá Quát…)
Thời kì này bắt đầu thấy bóng dáng cái tôi của cá tính trong tư cách ngang tàng, phóng túng (Phạm Thái, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ…)
Tóm lại, sự khủng hoảng ý thức, cộng với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đã tạo điều kiện thức tỉnh cái tôi cá nhân khá mạnh mẽ. Sự thức tỉnh cái tôi cá nhân, cùng với việc nhận thức được giá trị bản thân, khao khát đòi hỏi sự tự do, đã nhận ra được bản chất kìm kẹp con người của hệ tư tưởng phong kiến, đồng thời cảm thấy khó chịu, bất mãn trước những loại người xấu xa, đồi bại – những sản phẩn của mọt xã hội đang trên đà sụp đổ. Đó chính là cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của bút pháp trào phúng vào thời kì này.
b) Cái tôi Hồ Xuân Hương
Bên cạnh nguyên nhân khách quan là bối cảnh xã hội, thì hiện tượng trào phúng của Hồ Xuân Hương còn xuất phát từ chính bản thân tính cách của nữ sĩ này. Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ khát khao sống, là một con người tài hoa, học rộng biết nhiều nhưng cuộc đời có lắm bi kịch. Trước cảnh xã hội hỗn loạn với nhiều biến tướng, con người ấy làm sao có thể nhắm mắt làm ngơ, làm sao có thể để yên cho những điều sai trái cứ mặc nhiên hoành hành. Cái tôi khao khát sống mãnh liệt tài hoa của Hồ Xuân Hương, chính là nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự xuất hiện của hiện tượng trào phúng Hồ Xuân Hương. Với bà, thơ trào phúng, trước hết là sự giải tỏa nỗi lòng, sau đó còn là một thứ vũ khí để đấu tranh với các thói hư tật xấu, là tấm khiên để bảo vệ những người phụ nữ khác trong xã hội.
Cái tôi Hồ Xuân Hương trong thơ biểu hiện cũng rất đa dạng:
Cái tôi ấy khẳng định mình ở ngôi thứ nhất, bộc lộ thái độ riêng và cách ứng xử của bản thân:
“Này này chị bảo cho mà biết”
(Trách Chiêu Hổ)
“Thiếp bén duyên chàng có thể thôi”
(Khóc Tổng Cóc)
“Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
(Đề đền Sầm Nghi Đống)
“Này này chị bảo cho mà biết”
(Trách Chiêu Hổ)
“Thiếp bén duyên chàng có thể thôi”
(Khóc Tổng Cóc)
“Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
(Đề đền Sầm Nghi Đống)
Hiện tượng xưng tên là một hiện tượng khá lạ và độc đáo trong thi pháp trung đại, tách khỏi cái phi ngã của thi pháp để khẳng định cái tôi cá nhân:
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi”
(Mời trầu)
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi”
(Mời trầu)
“Thân này” cũng được sử dụng nhiều:
“Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!”
“Thân này ví biến dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong”
“Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!”
“Thân này ví biến dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong”
Khi bà hóa thân vào tình cảnh của người khác, xưng tôi nhưng là nói hộ tâm trạng của người khác:
“Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa
Mảnh tình một khối thiếp xin mang”
(Không chồng mà chửa)
“Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
Dau cầu thiếp biết trao ai nhẽ…”
(Bỡn bà lang khóc chồng)
“Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa
Mảnh tình một khối thiếp xin mang”
(Không chồng mà chửa)
“Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
Dau cầu thiếp biết trao ai nhẽ…”
(Bỡn bà lang khóc chồng)
Khi bà hóa thân vào sự vật thì cái tôi cũng hiện lên với những đặc tính, tính chất của sự vật:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
(Bánh trôi nước)
“Thân em như quả mít trên cây”
(Quả mít)
“Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”
(Ốc nhồi)
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
(Bánh trôi nước)
“Thân em như quả mít trên cây”
(Quả mít)
“Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”
(Ốc nhồi)
Nhìn chung, cái tôi Hồ Xuân Hương biểu hiện trong thơ có những đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, Dễ đồng cảm với những đối tượng tầm thường, nhỏ mọn như loài ốc, quả mít, bánh trôi nước, cái quạt, đồng tiền hẻm . Ở đây sự đồng cảm có hai mặt, vừa bộc lộ nỗi buồn thân phận nhỏ bé, bi kịch, những khao khát chưa được thỏa nguyện… nhưng từ đó lại làm bật lên “phép thắng lợi tinh thần” ngoa dụ sức mạnh tiềm ẩn và phẩm giá của các sự vật được miêu tả, cũng như từ đó làm bật lên phẩm giá của con người.
Thứ hai, Dễ chạnh lòng với những cảnh ngộ trớ trêu, không như ý, thậm chí đắng cay, chua chát: Tâm trạng đau thương trong ba bài Tự tình, khát khao hạnh phúc trong Mời trầu, thân phận hẩm hiu của người phụ nữ (Làm lẽ, Không chồng mà chửa), cảnh ngộ của những đàn bà góa bụa…
Có sự chú ý đặc biệt sắc sảo đến những “mặt người dị dạng” của xã hội: lũ quan lại, sư hổ mang lũ học trò dốt, những kẻ giả dối, tàn nhẫn… (Vịnh cái quạt, Thiếu nữ ngủ ngày, Mắng học trò dốt – I, II…)








