Hiển thị các bài đăng có nhãn Hàn Mặc Tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hàn Mặc Tử. Hiển thị tất cả bài đăng

ĐẶC SẮC NGÔN TỪ TRONG "ĐÂY THÔN VĨ DẠ"





-          Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” sử dụng nhiều từ giàu sức gợi tả.
o   Từ “mướt” trong câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” . “Mướt” là tính từ gợi tả sự bóng láng và mỡ màng, mềm mại trên bề mặt của thực vật, nhìn thấy thích mắt. Chỉ một chữ ấy thôi mà đã gợi nên được vẻ đẹp tinh khôi tràn đầy sức sống của cảnh vườn. “Mướt” kết hợp với “quá” càng làm tăng thêm sắc thái biểu cảm của từ này.
o   Từ “buồn thiu” trong câu thơ “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”: gợi lên nét buồn với vẻ thất vọng mât hứng thú.
o   Từ “lay” thể hiện trạng thái chuyển động không ngừng, nhưng ở đây còn nhuốm sắc buồn từ sự chia li của cảnh vật, còn gợi cái oi ả ảm đặng của một trưa vắng.
o   Chữ “kịp” gợi nên nỗi niềm của thi nhân, một dự cảm về tương lai, một lối sống vội vàng để hưởng thụ được những gì tối thiểu nhất của cuộc đời, từ đó cho thấy vẻ đáng thương, tội nghiệp, đau khổ.
-          Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” sử dụng rất nhiều từ phiếm chỉ.
o   “Vườn ai”, “thuyền ai”, “ai biết”,“tình ai”: Những phiếm chỉ “ai” gắn với các từ khác có tác dụng làm mờ cảnh vật.  Đồng thời cho cảm giác như cuộc sống và tình yêu, những gì thi nhân đang hướng tới đang khao khát như nhòa dần đi, mờ dần đi.
o   “Sông trăng đó”,”tối nay”,”ở đây”. Những từ “đó”, “đây” gợi diễn tả sự mơ hồ về không gian. “Đó”  có thể  ám chỉ thế giới ngoài kia, thế giới của sự sống, của những điều tốt đẹp mà nhà thơ bị số phận tước mất. “Đây”  có thể là thế giới trong này, thế giới của bóng tối và bệnh tật nơi trại phong Tuy Hòa. “tối nay” là một sự mơ hồ về thời gian. Những từ phiếm chỉ này phủ bài thơ trong một màn sương mơ hồ của kí ức và tưởng tượng, làm cho tất cả nhòe dần đi, nhòa dần đi trong một thời gian miên man và một không gian mênh mang vô định.
o   Những từ phiếm chỉ xuất hiện là do cảm xúc của nhà thơ:  Bài thơ được lấy cảm hứng từ một tâm bưu thiếp từ phương xa gửi tặng, tấm bưu thiếp ấy đã làm trỗi dẫy nỗi nhớ và cuộc sống mạnh liệt trong lòng thi nhân, từ đó từng hình tượng thơ ra đời. Tuy vậy những hình tượng này là những hình tượng của trí nhớ, do trí nhớ tái tạo, cũng có thể là những hình tượng tưởng tượng, tât cả đều được hình thành trong tâm trí thi nhân, tâm trí của một người bị giam cầm trong bóng tối, chịu đựng những nỗi đau tột cùng, chứng kiến cảnh tâm hồn và thể xác tan rã, chính vì vậy mà chúng mơ hồ, mơ hồ do màn sương trí nhớ, mơ hồ do những nỗi đau.
-          Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” có những kết hợp từ độc đáo, mới lại, gợi cảm.
o   “Nắng hàng cau”. “Nắng hàng cau” là nắng như thế nào? Là nắng len lỏi giữa hàng cau, hay hàng cau phủ đầy nắng? Sự kết hợp từ này gợi nên một bức tranh tuyệt đẹp của màu sắc và ánh sáng. Sắc vàng của nắng len lỏi giữa sắc xanh của lá. Nắng vì thế như xanh hơn, tươi hơn, đầy sức sống hơn. Còn lá vì thế trở nên lung linh hơn, huyền ảo hơn.
o   “Bến sông trăng”. Thế nào là bến sông trăng? Phải chăng là sông ngân trong truyền thuyết với vầng trăng lững lờ? Hay đó thật ra chính là một dòng sông trong kí ức nơi ánh trăng chiếu những vầng sáng bàng bạc trầm mặc của mình như dát lên mặt sông một lớp bạc kì ảo? Dù thế nào hình ảnh bến sông trăng cũng mang một vẻ đẹp kì ảo, một vẻ đẹp huyền bí, một vẻ đẹp diễm lễ.
-          Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chỉ sử dụng duy nhất một từ Hán Việt, đó là từ “nhân ảnh” trong câu thơ “ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, đây là cách sử dụng từ mang dụng ý nghệ thuật. Tác dụng của từ Hán Việt đó là gợi một bầu không khí trang trọng, bầu không khí cổ xưa. Nét trang trọng cổ xưa này mà từ “nhân ảnh” mang lại khiến cho cõi “sương khói” trong thơ ngoài nét mờ ảo huyễn hoặc vốn có còn có thêm vẻ trầm mặc u tịch, làm nên sức ám ảnh cho câu thơ.

TÍNH HỌA VÀ TÍNH NHẠC TRONG BÀI THƠ "ĐÂY THÔN VĨ DẠ"




TÍNH HỌA
I.                   KHÁI QUÁT.
-          Tính hình tượng và tính phi vật thể của chất liệu ngôn từ giúp cho tác phẩm văn học có thể tác động vào trí tưởng tượng của người đọc, hình tượng văn học giao lưu với độc giả gián tiếp thông qua trí tưởng tượng, chính ở trí tưởng tượng này mà văn học cho phép tái tạo trong tâm trí người đọc những màu sắc, hình khối, đường nét, tái tạo trong tâm trí họ những bức tranh tâm tưởng được “mã hóa” dưới lớp vỏ ngôn từ mà nhà thơ gửi gắm.
-          BIểu hiện màu sắc. Không chỉ là thể hiện từng màu, mà còn có thể là sự phối hợp của nhiều màu tạo thành chỉnh thể thẩm mỹ hài hòa. Đường nét. Gợi hình khối
-          Tác dụng:Thể hiện một cách mạnh mẽ hơn tư tưởng, tình cảm gửi gắm. Tạo hiệu ứng cảm xúc đặc biệt, làm rung động trái tim người đọc
II.                PHÂN TÍCH
Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là tổ hợp của bốn bức tranh tâm trạng với những sắc thái khác nhau được tạo nên mới những ngôn từ nghệ thuật.  Đó là một bức tranh vườn vào buổi sáng sớm tinh khôi, với một vẻ đẹp đầy sức sống, tươi tắn.  “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”.Đó là bức tranh tuyệt đẹp tràn ngập màu sắc và ánh sáng. Những chi tiết trong tranh cũng đậm tính hội họa. Chữ “mướt” đã đặc tả độ tươi non đầy sức sống của khu vừng.  Bức tranh ấy  có con nắng trong veo như thủy tinh của buổi sớm, có cái vẻ tươi mới mỡ màng của những tán lá non. Trong những gam màu ấy, nổi bật nhất là sắc “xanh như ngọc”. Đó là một thứ sắc màu tuyệt vời, đặc biệt gợi cảm, vừa có cái trong, cái sáng, lại vưa có cái quý giá của một thứ đá quý. Cả khu vườn mang một sắc màu thanh nhã, cao sang, tinh khôi, một thứ sắc màu được ví với ngọc.
Đó còn là bức tranh chia lìa của thiên nhiên, của mây và gió. “Gió theo lối gió mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Nhịp thơ 3/4  cùng phép điệp “gió…gió”, “mây…mây” như bẻ đôi câu thơ thành thế chia lìa, những sự vật sự việc tưởng như không bao giờ tách rời là mây gió nay đành phải xa nhau trong cảm hứng đau thương về sự chia lìa nơi trái tim thi sĩ. Cái thế chia lìa ấy họa lên bức tranh thiên nhiên những đường nét chia phôi, nhạt nhòa. Chữ “lay” vốn chỉ là một từ bình thường nay cũng mang nặng nỗi buồn, và trong cái vận động liên tục trong thế bất động ấy, ta cảm tưởng như có sắc úa, một thứ màu sắc không cụ thể không rõ ràng phủ đầy lên bức tranh, một gam màu héo úa, tàn tạ, buồn mênh mang.
Bức tranh thứ ba, bức tranh con thuyền trăng và dòng sông trăng hiện lên lung linh trong tâm trí, nhưng ở đây tác giả chỉ gợi chứ không tả, còn thuyền và ánh trăng hiện lên trong thơ một cách tự nhiên : “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”. Không có chi tiết. Không có màu sắc. Không có đường nét. Nhưng bản thân mỗi hình tượng đã mang trong nó những chất liệu của hội họa. Câu tơ như vẽ vào tâm trí người đọc một bức tranh bàng bạc của một chốn hư ảo chỉ có trong tưởng tượng: Dòng sông trăng. Câu thơ gợi cho con người cái mênh mang bất tận của cõi trời và nước, cái long lanh trầm mặc như dát bạc của ánh trăng. Đó là một khung cảnh thoáng đãng, mở ra khoáng đạt đến vô tận, và ngân đầy ánh sáng.
Bức tranh cuối cùng là bức tranh mờ sương khói của một cõi tâm hồn, của thế giới đau thương với những bóng ma, mờ mừ nhân ảnh. Chữ “mơ” và “sương khói” đã họa lên cái không gian mông lung mơ màng, nhờ nhờ khói sương của một cõi đau thương nơi chỉ nhà thơ có thể đặt chân đến. Giữa bức tranh ấy là bóng dáng của một ai không rõ, xa dần, xa dần. Từ Hán Việt “nhân ảnh” với sắc thái trang nhã, tạo bầu không khí cổ xưa như càng làm cho bức tranh sương khói ấy thêm trầm mặc, thêm bi ẩn, có cái trầm mặc bí ẩn của vô thủy vô chung thời gian. Đây là một bức tranh đầy ám ảnh, của một cõi mơ, cõi đau thương, cõi thơ điên, đập vào tâm trí người đọc một cái gì đó lạnh giá, một cái gì đó cô đơn, một cái gì đó kinh hãi pha với thương xót…
Bốn bức tranh trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là bốn bức tranh tâm cảnh với những nỗi niềm riêng, xúc cảm riêng, sắc thái riêng. Có cái tươi mới thanh nhã tinh khôi, có cái vàng úa tĩnh mịch, có cái lung linh huyền ảo diễm lệ,  có cái mờ ảo lãnh lẽo thậm chí là kinh dị. Nhà thơ họa lại những bức tranh ấy bằng cảm xúc trong trái tim mình, chủ yếu qua màu sắc, đường nét, ánh sáng. Ba bức tranh sau hiện lên bằng bút pháp gợi, chỉ gợi chứ không tả, chỉ đi vào những nét chấm phá chứ không đi vào chi tiết cụ thể, tỉ mỉ. Cảm nhận bốn bức tranh, người đọc phải mở rộng trái tim mình và phát huy trí tưởng tượng cao độ, điều này làm nên đặc sắc và góp phần tạo nên sức sống cho tác phẩm, khiến tác phẩm sống mãi trong trái tim bạn đọc.

TÍNH NHẠC
I.                   KHÁI QUÁT
-          Chất liệu cấu tao của văn học là ngôn từ. Ngôn từ là hệ thống tín hiệu, mỗi tín hiệu của ngôn từ có hai mặt: Phần nghĩa và phần âm. Chính phần âm này, hay nói khác đi, chính những đặc trưng về ngữ âm của chất liệu nghệ thuật ngôn từ đã làm nên tính nhạc cho tác phẩm thơ.
-          Biểu hiện
o   Phối thanh: bằng, trắc (thanh bổng – thanh trầm); phù bình thanh – thanh cao (sắc, ngã, ngang), trầm bình thanh – thanh thấp (huyền- nặng- hỏi) -> phối thanh trong bài thơ như phối các nốt trong một bản nhạc.  (Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống/ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi)
o   Ngắt nhịp (Kỉ niệm trong tôi/rơi/như tiếng sỏi/trong lòng giếng cạn)
o   Hiệp vần
o   Điệp (ngữ, từ, câu, cấu trúc)
o   Từ láy mô phỏng âm thanh ( Những đường Việt Bắc của ta/ Đêm đêm rầm rập như là đất rung; li-la li-la li-la)
-          Tác dụng:Tăng nhạc tính -> tăng tính gợi cảm, sức hấp dẫn của bài thơ.
·      Thể hiện một cách mạnh mẽ hơn tư tưởng, tình cảm gửi gắm. Tạo hiệu ứng cảm xúc đặc biệt, rung động trái tim người đọc.
II.                TÍNH NHẠC TRONG BÀI THƠ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ”
Tính nhạc trong bài thơ ĐTVD trước hết thể hiện ở sự phối thanh bằng trắc ở từng khổ thơ cũng như ở toàn bài thơ.
Nhạc điệu bằng - trắc theo lối thơ Đường thất ngôn. Tất thảy các chữ 2 -4 -6 trong câu đều theo kết cấu hài âm bằng trắc của Đường thi, đó là sự hài âm theo qui ước “ nhị, tứ, lục phân minh”.
 Khổ thơ mở đầu của Đây thôn Vĩ Dạ: có 17 tiếng mang thanh Bằng, và 11 tiếng mang thanh Trắc trong đó Thượng thanh: 02 (Ngã, không có Hỏi), Khứ thanh: 05 (Sắc: 05, không có Nặng), Nhập thanh: 04 (Sắc: 02, Nặng: 02).
khổ thơ thứ hai khổ này có 16 tiếng mang thanh Bằng, 12 tiếng mang thanh Trắc; và có tới 21 tiếng là thanh Cao, trong khi chỉ có 07 tiếng là thanh Thấp (y như ở khổ mở đầu).
Khổ thơ thứ ba:khổ này có 17 tiếng mang thanh Bằng, 11 tiếng mang thanh Trắc; và cũng có tới 21 tiếng mang thanh Cao, trong khi chỉ có 07 tiếng mang thanh Thấp (cũng y như ở khổ thứ hai và khổ mở đầu).
Tổng quan lại, cả bài Đây thôn Vĩ Dạ với 03 khổ thơ, 12 dòng, 84 tiếng, ta có:
50    iếng mang thanh Bằng, 34 tiếng mang thanh Trắc;
63 tiếng là thanh Cao, 21 tiếng là thanh Thấp.
èCái tỷ lệ ấy tự nó đã nói lên vì sao Đây thôn Vĩ Dạ đẹp mà buồn, buồn như nhạc cổ điển nghe trong chiều mưa, những âm hưởng nền du dương êm ả của các thanh Bằng và trên cái nền đó là những âm sắc Cao, trong trẻo, thiết tha.
Ngoài ra, tính nhạc còn thể hiện ở các  yếu tố khác:
o   Nhịp: Nhịp 4/3 của những câu thơ như  “Nhìn nắng hàng cau/nắng mới lên” “Gió theo lối gió/mây đường mây”, “Mơ khách đường xa/khách đường xa” tạo nên những tiết tấu du dương, đồng thời cũng tạo nên liên kết về mặt ngữ âm giữa các khổ thơ, khiến cả bài thơ trở nên hài hòa, da diết.
o   Điệp từ: “nắng hàng cau… nắng mới lên” “Gió…gió”, “mây… mây”, “khách đường xa, khách đường xa” làm nên giai điệu trùng điệp như khắc sâu cảm xúc, khắc sâu nỗi niềm.
o   Vần “ay” lắng xuống, tạo thành những dư âm, những cơn sóng ngầm lặng vào tron.
o   Vần “a”, âm vang, làm cảm xúc ngân dài ngân dài trong những vang vọng dội vào tâm hồn độc giả.

"Khoảng lặng" trong bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ"



I.     KHÁI QUÁT
1.    Khoảng lặng là gì
 Là “Khoảng trắng giữa hai dòng chữ”, là phần nghĩa không nói ra, được nhà thơ giấu kín. Với tác phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm thơ, người đọc đồng thời cũng là là người tri âm, tìm kiếm “những điều chưa nói hết” ấy trong những khoảng lặng.
2.    Biểu hiện khoảng lặng:
·      Các cách tách câu thơ đặc biệt, các khổ thơ có hình thức bậc thang, tạo hình…
·      Dấu ba chấm
·      Cách ngắt nhịp Các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ
·      Câu hỏi tu từ
·      Cách phối thanh, vần
3.    Vì sao cần có khoảng lặng?
·      Đặc trưng của thơ là cảm xúc, đối tượng của thơ là cảm xúc, “Thơ ca là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người” (Tố Hữu), mà cảm xúc con người vốn phức tạp, đa dạng, sâu sắc với những biến thái tinh vi, phong phú, cho nên bản thân cảm xúc đã là thứ không thể diễn đạt trọn vẹn bằng từ ngữ. Mặc khác, có những cảm xúc của con người rất mỏng manh mơ hồ, cũng lại có những cảm xúc rất tế nhị, có những cảm xúc lắng sâu vào trong, trở thành những cơn sóng ngầm nội tâm, những cảm xúc ấy về bản thân nó cũng không phải là những cảm xúc để nói ra ngoài. Do vậy, nhu cầu có một “chỗ chứa”, một phương tiện truyền tải những cảm xúc không thể nói thành lời ấy, là nhu cầu cấp thiết đối với thơ ca èĐặc trưng ngữ nghĩa của nghệ thuật ngôn từ đã tạo cho văn chương những khoảng lặng để đáp ứng nhu cầu ấy.
·      Đặc trưng thứ hai của thơ ca là sự hàm súc, cô đọng. Thơ ca không cho phép cái dài dòng dàn trải. “Thơ là ý tại ngôn ngoại”. Ngôn ngữ thơ đòi hỏi sự hàm súc đến tuyệt đối, chỉ những gì bản chất nhất, cần thiết nhất, ý nghĩa nhất mới được thể hiện, nhưng sự hàm súc ấy của ngôn từ bề mặt lại gánh trách nhiệm rất lớn lao: Trở thành người thư kí trung thành của trái tim để truyền tài những cung bậc cảm xúc đa dạng phức tạp của con người. Như vậy, sự xuất hiện của những khoảng lặng ở đây cũng là điều dễ hiểu.
·      Chất liệu ngôn từ và tính hình tượng của nó tác động vào trí tưởng tượng của con người, ngôn từ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật giao tiếp gián tiếp với con người trong thế giới tưởng tượng, mà trí tưởng tượng của con người là vô hạn, có thể nói không nơi nào, không điều gì mà trí tưởng tượng không thể chạm đến, được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, tự bản thân thơ ca đã có đặc tính về những khoảng lặng, đặc tính do những đặc trưng của chất liệu ngôn từ mang lại.     
4.    Tác dụng của khoảng lặng
-       Diễn đạt những ‎ y nhị, sâu kín của cảm xúc. Cảm xúc ko nói ra là cảm xúc dễ đi vào lòng người, gây được ấn tượng mạnh.
-       Thể hiện được những đặc trưng của thơ, vừa đảm bảo tính hàm súc nhưng vừa diễn đạt được tất cả những gì nhà thơ gửi gắm.
-       Một “quãng nghỉ”, như một khoảng trắng trong bức tranh thủy mặc để ngừơi đọc tịnh tâm lại, chiêm nghiệm về tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ gửi gắm.
-       Làm nên sự hấp dẫn, thu hút của bài thơ -> Mỗi bài thơ là một hành trình khám phá trái tim của những trái tim đồng điệu -> sức hấp dẫn không phải là những điều đã nói, mà là ở những điều chưa biết, cần phải kiếm tìm.
-       Nhờ khoảng lặng mà người đọc và nhà thơ gần gũi hơn, đồng cảm hơn.
II.  NHỮNG KHOẢNG LẶNG TRONG BÀI THƠ “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” CỦA HÀN MẶC TỬ.

“Thi sĩ như những con chim sơn ca đứng trong bóng tối cất lên những tiếng cô độc để mua vui cho sự cô độc của chính mình” (Selly)

Nếu được yêu cầu phải tìm một chú chim sơn ca ở tận cùng bóng tối, để những gai nhọn của bông hoa cuộc đời cứa sâu vào tim và cất lên những vần thơ tuyệt đỉnh, những vần thơ quay quắt đầy sức ảnh ảnh, thì có lẽ không có sự lựa chọn nào tốt hơn Hàn Mặc Tử. Đau đớn, tuyệt vọng, cô đơn, cùng cực, bi phẫn, khao khát, đoạn tuyệt với đời nhưng đau đáu hướng về cuộc đời… Số phận và đời thơ Hàn Mặc Tử có lẽ là một trong những số phận đau thương nhất của văn đàn Việt Nam. Với một khối đau thương thấm đẫm máu và nước mắt ấy, không ngôn từ nào, không lời nói nào có thể nói ra trọn vẹn. Hồn thơ ấy hẳn nhiên phải đầy những khoảng lặng, những khoảng lặng thơ làm nên những vùng tâm hồn bí hiểm, mà khám phá vào thế giới ấy, vào trái tim ấy, vào khối tình ấy, người đọc không khỏi bắt gặp những ảm ảnh.

Những khoảng lặng ấy thể hiện trước hết trong những câu hỏi tu từ. “Đây thôn Vĩ Dạ” đầy những câu hỏi băn khoăn day dứt. Hỏi, nhưng không phải hỏi, bản thân câu hỏi đã có câu trả lời. Hỏi, như tiếng lòng khắc khoải cứ mãi trở trăn, hỏi đấy, mà thực ra, chính là những xúc cảm đang cất lời. Câu hỏi đầu tiên: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”, mở đầu bài thơ đầy sức gợi, như thu hút người đọc vào nhiều điều bí ẩn. Đó là lời của ai? Phải chăng là lời trách móc của cô em Hoàng Cúc tới người anh lâu ngày không gặp? Phải chăng đó là lời mời đầy hiếu khách của một người con gái Huế đáng yêu? Hay phải chăng là một lời tự vấn của chính thi nhân: Đã bao lâu rồi ta chưa về chốn ấy, về với cảnh cũ người xưa? Bản thân câu hỏi đã là một điều bí ẩn. Nhưng cái lặng ở đây, cái khoảng lặng chất chứa cảm xúc, không nằm ở chỗ ai hỏi hỏi ai, mà là ở chỗ, ở giữa những con chữ chất chứa những cảm xúc, băn khoăn gì, những tâm tư nào còn ẩn kín, vô ngôn. Đó là một lòng khao khát hướng về cuộc đời, của một con người vì hoàn cảnh mà phải đoạn tuyệt với cuộc đời. Nhưng đoạn tuyệt không có nghĩa cự tuyệt, con người ấy vẫn một lòng hướng về cuộc đời trong tiếng lòng thổn thức và khát khao, mọi nhịp đập của con tim,  mọi hơi thở, và cả dòng máu nóng chảy trong huyết quản, đều hướng về thế giới ấy trong tình yêu toàn vẹn, trong niềm khao khát tột cùng. Thế nên câu hỏi mở đầu bài thơ có cái gì đó trìu mến, mà có chút gì đó bâng khuâng như oán trách, cũng có cái gì đó nằng nặng như một lời tự vấn.

Kết thúc mỗi khổ thơ của Đây thôn Vĩ Dạ là một câu hỏi tu từ. Mỗi câu hỏi tu từ là một tâm trạng, là một uẩn khúc tâm hồn, là một nỗi niềm phong kín. Câu hỏi: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” của khổ thơ một chẳng đơn thuần là một câu hỏi, mà đó còn là một lời trầm trồ thán phục, còn là sự hưng phấn của một con người trước cảnh vườn xanh mướt, tinh khôi, cao sang, thanh tú. Nhưng từ trong khoảng lặng ở giữa những vần thơ, ta còn bắt gặp một ánh nhìn khá tươi vui: Một sự khen tặng, một lời ca ngợi, khen tặng, ca ngợi bàn tay người con gái chăm chỉ nết  na hiền lành đã làm nên khu vườn tuyệt đẹp này, mà ẩn sâu trong ấy, chính là những nhịp đậu của một trái tim tha thiết với đời, đặc biệt tha thiết với con người.

Khác với cái nhìn có vẻ tươi vui của câu hỏi ở khổ thơ đầu, câu hỏi ở khổ thơ thứ hai ẩn chứa trong khoảng lặng của nó một cái nhìn dự cảm, một sự gấp gáp đầy khổ đâu: “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Trăng là biểu tượng cho thế giới ngoài kia, thế giới của cuộc sống và ánh sáng, khác hẳn với thế giới trong này, thế giới của bóng tối và bệnh tật, của những đớn đau, của thể xác và linh hồn tan rã… Chạm vào khoảng lặng gửi gắm trong chữ “kịp” trái tim người đọc như thắt lại. Tại sao lại băn khoăn về chữ “kịp”, tại sao ở đây lại có cái gấp gáp về thời gian, và có cái gì đó bùi ngùi như thể mất mát? Phải chăng thi nhân đã có dự cảm chẳng lành? Hay phải chăng đó là tâm trạng đau khổ tự ti của một con người bị cuộc đời quay lưng? Ẩn trong ngôn từ là những nỗi niềm chua xót, những nỗi niềm tủi phận, của một tâm hồn đáng thương. Hàn Mặc Tử gấp gáp, nhưng lại là gấp gáp để được hưởng những điều tối thiểu của cuộc đời. Cái tình cảnh ấy đau xót như những vết cứa vào tim, khiến ta không sao kìm nổi nước mắt. Khoảng lặng ở đây ôm ấp những xúc cảm bi kịch và đầy day dứt, ảm ảnh và mờ nhòa như một vết thương tâm tưởng…

Và câu hỏi tu từ ở khổ thơ cuối thì thực sự là những cảm xúc vỡ òa: Ai biết tình ai có đậm đà? AI là ai? Là em không biết tình anh đậm đà? Hay là liệu tình em có đậm đà với anh? Cảm xúc cứ day dứt, cứ xoay vòng, cứ xoáy sâu như một cơn lốc, đầy băn khoăn, đầy trăn trở, nhưng thực ra lại chính là những khao khát sống, những yêu thương, găn bó với cuộc đời của một con người ở vực thẳm của sự tuyệt vọng.

Ba câu hỏi là ba cảm xúc phức tạp. Ba khoảng lặng trong thơ mà cũng là ba khoảng lặng trong lòng bạn đọc, với những cảm xúc xót xa.

Khoảng lặng trong “Đây thôn Vĩ Dạ” còn thể hiện ở những hình tượng mà nhà thơ xây dựng. Đó có thể là hình ảnh của một con người “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Một con người mờ mờ ảo ảo thấp thoáng trong bức tranh tâm tưởng. Một con người lặng, vô ngôn nhưng đầy tâm sự. Có người cho rằng, đó chính là hiện thân của Hàn Mặc Tử, một bức chân dung tự họa trong bức tranh thiên nhiên vườn tược diễm lễ của tâm tưởng. Và ở trong cái khoảng lặng – bức chân dung ấy, là một sự tự ti của con người mang bệnh hòa cùng nỗi khát khao hướng về cuộc đời. Tĩnh lặng nép mình dưới đám trúc, hướng về cuộc đời về ánh sáng trong sự khát khao, trong nỗi niềm yêu mến, nhưng tuyệt nhiên chẳng thể lại gần. Hình ảnh ấy là hình ảnh ta có thể bắt gặp trong những khoảng lặng mà hình tượng mang lại, một hình ảnh đầy xót xa.

Hình tượng dòng sông trăng, hình tượng sương khói nhân ảnh đều vẽ ra những khoảng lặng man mác, khoảng lặng của cõi trời nước mênh man, khoảng lặng của ánh trăng trầm mặc, khoảng lặng của màn đêm thăm thẳm, khoảng lặng của sương khói, của cõi mộng, cõi điên…

Và nhiều lúc, chỉ là những từ ngữ tưởng như đơn giản, mà thật ra cũng chất chứa trong ấy biết bao nhiêu điều, trong những điều chưa nói, là những tâm sự thật sự, mà người đọc hoàn toàn có thể cảm nhận được, hiểu được với trái tim đồng cảm và tâm hồn đồng điệu. Chỉ một chữ “lay” mà bao cái sầu úa như đổ dồn cả vào khung cảnh, ấy là tâm trạng con người đang chiếm lĩnh thiên nhiên. Chỉ một chữ “kịp” mà thấy được tâm trạng đau đớn, cái gấp gáp đến tội nghiệp.

Nhưng tác dụng tạo khoảng lặng đáng kể nhất phải kể đến những đại từ phiếm chí. Cụ thể ở đây là đại từ phiếm chỉ “ai”. “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”. “Ai biết tình ai có đậm đà”. Về mặt ngữ nghĩa những đại từ phiếm chỉ làm cho nhòe nghĩa, làm đối tượng mờ dần đi, nhạt nhòa dần đi, tính cá thể trở nên không rõ ràng, như phủ một lớp màn sương khói lên tất cả. Điều này tạo ra những khoảng trống mênh mông khi hình tượng nghệ thuật, thông qua ngôn từ nghệ thuật, tác động và tâm tưởng người đọc và tạo ra những hình ảnh trong tâm trí họ. Những khoảng trống mênh mông ấy, những khoảng lặng ấy, như thể những khoảng trống trong những bức tranh thủy mặc, luôn mang môt sức gợi lớn lao, như cuốn hút người đọc vào khám phá một miền bí ẩn nào ấy, khiến họ tích cực khi tiếp nhận tác phẩm, và khiến tác phẩm ở sâu trong lòng họ. 

Những đại từ phiếm chỉ còn tạo nên một khoảng lặng khác: Khoảng lặng của tâm trạng, một điều giấu kín, ẩn sâu, một góc khuất tâm trạng của nhà thơ. Vườn, thuyền và tình, đó là những biểu hiện đẹp nhất, cao nhất của cuộc sống mà Hàn Mặc Tử luôn khao khát, luôn hướng về, là thứ ánh sáng của sự sống mà nhà thơ luôn dõi theo từ nơi bóng tối của bệnh tật. Nay những điều ấy bị nhòe dần đi bởi đại từ phiếm chỉ, nhòe dần đi trong thơ, nhòe dần đi trong mạch cảm xúc. Ta bắt gặp ở đây một bàn tay cố rướn lên để với, nhưng càng với càng xa, càng khát khao, càng yêu thương càng tuyệt vọng, càng đau đớn… 

Chính đặc điểm của ngôn từ và đặc trưng của thơ đã tạo nên những khoảng lặng của bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Đồng thời những khoảng lặng này cũng làm nên đặc sắc ngôn từ của tác phẩm, góp phần làm nên sức sống trong tác phẩm, để bài thơ thực sự là một cái gì đó độc đáo, cho người đọc tìm thấy được những điều mà “Trước nhà thơ đó, trước câu thơ đó còn như bị phong kín” (Nguyễn Tuân).