Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết học sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết học sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

HÌNH TƯỢNG ÔNG LÁI ĐÒ VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT CỦA NGUYỄN TUÂN



Bài viết số 5
Thời gian: 90 phút
Đề bàiPhân tích hình tượng ông lái đò trong đoạn trích nguời lái đò sông Đà để làm rõ nghệ thụât xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân.


Bài làm

Những trang văn khép lại… nhưng cụôc sống mới mở ra với tất cả sức sống, màu sắc, âm thanh hoà quyện trong từng nhịp vận động của nó. Những trang văn khép lại… cảm xúc trong ta vẫn ngân dài, dữ dội và dịu êm, mạnh mẽ sục sôi mà trầm tư sâu lắng, vừa say mê vừa thổn thức. Hình tượng văn học, phương tiện phản ánh của văn học đã góp phần ghi dấu cảm xúc trong ta, và qua mỗi hình tượng, dấu ấn nghệ thuật của nhà văn hịên rõ trong trang viết. Hình tựơng ông lái đò trong “Người lái đò sông Đà” là một hình tựơng đặc sắc như thế, thể hiện rõ phong cách Nguyễn Tuân trong việc xây dựng nhân vật.

Nguyễn Tuân đuợc đánh giá là một trong những hiện tượng văn học phức tạp nhất của văn học nước nhà, bởi quá trinh sáng tác của ông là một hành trình đi tìm cái đẹp với nhiều chặng bíên đổi rất phức tạp. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân có thể ví như cuộc đời chim phượng hoàng lửa trong truyền thuyết, cứ năm trăm năm lại tự bốc cháy, để rồi hồi sinh từ đống tro tàn, phượng hoàng lửa lại trẻ trung và lộng lẫy hơn trước. Những biến chuyển về phong cách của Nguyễn Tuân cũng giống như cuộc diệt-sinh ấy, có thể nói, đến thời kì sau CMT8, ngòi bút của Nguyễn Tuân đã có một cuộc lột xác, tích cực hơn, gần gũi hơn với vẻ đẹp của con người lao động và con người chiến đâu, là những con người hôm nay trong thời đại hôm nay.

Người lái đò sông Đà là đứa con tinh thần của Nguyễn Tuân trong thời kì ấy. Đây là tác phẩm thuộc thể kí, nên nép đẹp đặc sắc của nó, ngoài ở những cảnh đẹp mê hồn đựơc hoạ lại qua ngòi bút tinh tế của Nguyễn Tuân, còn là một cái tôi Nguyễn Tuân ngông ngạo, tài hoa uyên bác ghi dấu khá đậm nét.

Đúng như tên gọi của đoạn trích, “Người lái đò sông Đà”, qua đoạn trích cũng như  trong toàn bộ tác phẩm, Nguyễn Tuân đã hướng ngòi bút của mình vào khám phá, tôn vinh những vẻ đẹp của hình tựơng ông lái đò. Hình tượng nghệ thụât là một phương tịên phản ánh đắc lực của nghệ thụât, nó là sự phản ánh hịên thực một cách nghệ thụât bằng chất liệu ngôn từ, và chỉ có thể nhận biết nó bằng cảm tính. Do đó, mỗi hình tượng nghệ thuật là một “người lạ mặt quen biết”(Bielinxki)’, mỗi hình tượng nghệ thuật là sự tổng hoà giữa cái chung và cái riêng, cái cá thể và cái toàn thể, giữa hịên thực và sáng tạo, nó vừa chân thực, vừa khái quát, nhưng đồng thời  nó cũng phải mang đậm dấu ấn của người sáng tạo ra nó. Chính vì vậy, đi sâu vào phân tích hình tựơng ông lái đò, ta sẽ tìm thấy nghệ thuật xây dựng nhân vật đầy tài hoa, điêu luyện của Nguyễn Tuân.

Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, am tường về địên ảnh, có lẽ chính vì vậy, để tạo sự xuất hịên ấn tượng nhất cho nhân vật của mình, nhà văn đã dày công tạo nên một bức nền lí tưởng để mở đuờng cho sự xuất hiện của nhân vật ông lái đò: Bức tranh con sông đà dữ dội. Đó là bức tranh âm u, hiểm trở, với bãi đã cao vút, “đúng chính ngọ mới thấy mặt trời”, “giữa mùa hè mà thấy lạnh”. Con sông Đà làm người ta ghê rợn với những hút nước “như cửa cống cái bị sặc”, “kêu ặc ặc như ai rót dầu sôi vào”, và nhất là hình ảnh  những con thuyền bị nó núôt chửng! Thác sông Đà hịên ra cũng không kém phần dữ dội. Ở xa thì lúc giọng oán trách van xin, khi thì giọng gằn và chế nhạo, khi như tiếng hàng trăm con bò mộng lồng lên trong rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa. Còn ở gần, thác đá ấy thật nguy hiểm với những con quỷ đá mặt nhăn nhúm ngỗ ngựơc. Ở con sông Đà này, ta có cảm giác tất cả thế lực tự nhiên đều cấu kết với nhau để hãm hại con người, để bắt chết những chiếc thuyền vô tình đi ngang. Chẳng trách mà Nguyễn Tuân hạ bút: “Con sông đà mang diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một”. Thật sự, qua ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện lên như một thứ thuỷ quái với sức mạnh vô  biên, bạo lịêt, hoang dại, nhưng đồng thời cũng nham hiểm, tàn nhẫn, rất hiểu tâm lí con người và sẵn sàng tiêu diệt con người!

Nhưng bức tranh ấy cũng chỉ làm nền cho con người mà thôi. Bởi đối tượng trung tâm của văn học là con người, như một nhà nghệ sĩ đã nói, “Tác phẩm nghệ thuật chân chính là tác phẩm tôn vinh con người”, chính vì vậy, thiên nhiên dẫu đẹp, dẫu sống động cũng chỉ làm nền, trở thành bình dịên thứ hai để tôn vinh con người. Con sống Đà dữ dội chính là một thứ môi trường anh hung ca lí tưởng để người lái đò bọc lộ phẩm chất, con sông Đà càng dữ dội bao nhiêu, thì tầm vóc con người càng sừng sững, lẫm lịêt bấy nhiêu.

Hình tựơng nhân vật ông lái đò đựơc khắc hoạ đậm nét trong sự đối lập với con sông Đà, qua cuộc chiến cam go , căng thẳng với thiên nhiên hùng vĩ để chế ngự thiên nhiên. Đó là một ông lái đò dũng cảm , gan trí, kiên cường bất khuất khi đối mặt với ba trùng vi thạch trận của sông Đà.

Trùng vi một “nhiều đá lắm nước, bốn của từ chỉ có một cửa sinh nằm ở tả ngạn”. “Nước hò la áp đảo”, “đánh đòn lung, đòn tỉa, đòn âm, cả những đòn độc hiểm nhất”. Ông lái đò “Cố nén vết thương”, “mặt méo bệch đi” nhưng vẫn tỉnh táo chỉ huy sáu cái mái cheo vựơt qua thạch trận. Bằng ngòi bút miêu tả tinh tế, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ hình ảnh một ông lái đò dũng cảm ,lí trí và gan góc, dẫu bị thương vẫn không chịu khuất phục, bằng mọi giá vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt mà thiên nhiên đưa ra.

Tuy vậy, đến trùng vi thứ hai, ông lái đò chuyển từ thế thủ sang thế công. Trùng vi này vẫn mênh mông đá nước, nhưng cửa sinh lại nằm ở hữu ngạn. ông lai đò nắm chắc binh pháp thần sông thần đá, quyết tâm cưỡi thác sông Đà như cưỡi hổ. Trước những con quỷ đá, khi thì ông điều khiển thuyền vượt qua, khi thì ong chặt đôi tiêu dịêt, lúc thì ông “đè sấn tới”. Ông lái đò lừng lững giữa trận địa dữ dội của sóng gào và những hòn đá lởm chởm, oai phong như một vị tướng can trường, ở ông hội đủ phẩm chất về trí tụê cũng như sức mạnh. Chính vì vậy ông lái đò vượt qua trùng vi thứ hai. Ông lái đò ghì cương lái, bám lấy dòng nước đúng ông lái miết một đuờng chéo thẳng về phía cửa đá ấy. Đây là những câu văn sinh động, điêu luyện, đầy kiến thức của Nguyễn Tuân. Nhà văn uyên bác đã vận dụng những tri thức của môn thể thao đua xe cùng những góc quay đa dạng, lia táo bạo của nghệ thuật địên ảnh, nên áng văn dòng vào ta những chuỗi hình ảnh kịch tính, sống động, thu hút!

Trùng vi thứ ba, trùng vi cuối cùng, cửa sinh nằm ở giữa hàng hộ vệ đá. Ông lái đò lao thẳng vào cửa ấy. Ông cho thuỳên “đi qua chiếc cổng đá, cảnh mở cánh khép”. Chiếc thuỳên vút qua cánh cửa đá. “Vút! Vút! Cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, chiếc thuyền như mũi tên tre xuyên qua làn nước, vừa xuyên vừa tự động lái đựơc, lượn đụơc. Câu văn nhịp nhàng, gấp gáp, mau lẹ, như chính những động tác của ông lái đò. Ở đây, một cách quyết đoán và bản lĩnh, ông lái đò đã sử dụng chiến thuật đánh áp đảo, đánh nhanh thắng nhanh! Phép so sanh chiếc thuyền với mũi tên tre của Nguyễn Tuân vừa độc đáo, nghệ thuật nhưng cũng rất thực tế. Tại sao phải là mũi tên làm bằng tre mà không phải là các chất liệu khác? Xét về mặt vật lí, tre vốn nhẹ, nên khi phóng đi sẽ lao nhanh, lao vun vút, và từ tốc độ thực tế ấy liên tưởng đến tôc độ con thuyền và khả năng phản ứng của ông lái đò, ta mới thấy hết cái tài trí và quyết đoán của ông. Làm sao không say mê cho đựơc những đoạn văn như thế? Làm sao không khâm phục một tài năng văn chương nhường vậy? Nguyễn Tuân quả là một nhà văn hiểu biết sâu sắc về cuộc sống, với ông, đã không biết thì thôi, chứ cái gì đã biết là phải biết đến tường tận, đến tận cùng!

Như vậy, qua cuộc đối đầu với ba trùng vi, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ một ông lái đò trí dũng song toàn. Nghệ thuật chủ yếu ở đây vẫn là sự đối lập được khai thác tối đa giữa thiên nhiên hung vĩ, dữ dội và con người tuy nhỏ bé nhưng bất khuất, tài trí, dám chinh phục thiên nhiên và đã chinh phục được thiên nhiên, nâng tầm vóc con người lừng lững, tuyệt đẹp, sánh tầm cùng vũ trụ. Nhưng vẫn phải kể đến những thủ pháp nghệ thuật miêu tả độc đáo, sự am hiểu tường tận và phát huy một cách uyển chuyển nhịp nhàng tri thức các bộ môn khác như địên ảnh, võ thụât, quân sự, đua xe, cả kiến thức địa lí và văn học. Chính điều đó đã làm cho lượng thông tin trong đoạn văn, dù rất nhiều, có thể mở mang tri thức cho người đọc, thực hịên chức năng nhận thức của văn chương là trở thành cuốn sách giáo khoa của đời sống một cách xuất sắc, mà vẫn không làm mất đi cái uyển chuỷên sống động của câu văn. Uyên bác, nhưng trước hết đó vẫn là văn chương, là nghệ thuật, câu văn vẫn giữ được vẻ gợi cảm và sức hút riêng của nó. Có thể nói, đoạn trích này nói riêng và tác phẩm Người lái đò sông Đà nói chung, đã làm giàu thêm kiến thức cho người đọc bằng con đuờng đi từ trái tim, nên kiến thứ nhớ lâu, nhớ bền, và có thể áp dụng đựơc khi cần. Ngoài ra, cũng không thể không nhắc đến nghệ thụât dùng từ điêu luyện vào loại bậc thầy của Nguyễn Tuân, cũng như không thể không nhắc đến những câu văn co duỗi nhịp nhàng như có khớp nối, đã làm nên hình hài sức vóc đẹp, sống động, cho hình tượng ông lái đò!

Nhưng ông lái đò còn có những phẩm chất khác, khác với phẩm chất của một người dũng tướng khi đối mặt với ba trùng vi thạch trận ở trên, đó là phẩm chất của một nghệ sĩ, khi tất cả kí ức về một buổi vựơt thác cực nhọc “tan xèo xèo trong trí nhớ” (lại là một chi tiết đắt giá của thủ pháp địên ảnh), và ông lái đò cùng mọi người vào hang, nghỉ ngơi, tuyệt nhiên họ không nhắc đến hiểm nguy vừa qua, xem như một chuỵên bình thường của cuộc sống hằng ngày. Vậy đấy, công việc hiểm nguy dường vậy mà chỉ xem như vịêc bình thường của cuộc sống! Còn gì dũng cảm hơn thế? Hình tựơng nhân vật ông lái đò là một hình tựơng nhân vật đặc sắc, vì không chỉ thể hịên nét đẹp của một ông lái đò mà còn khái quát đựơc vẻ đẹp của người lao động, tôn vinh người lao động. Tại sao ông lái đò không tên? Bởi ông đã hoà vào những người lao động khác trên Tây Bắc, cũng như trên đất nước hình chữ S này, những con người cần cù, nhẫn nại, tài trí song toàn, những con người yêu lao động, ngày đêm xây dựng Tổ quốc, những con người – “chất vàng mười” quí giá của Tổ quốc!

Và khi tác phẩm – bộ phim ấy kết thúc, hình tựơng nhân vật ông lái đò lui vào sâu trong trí nhớ, lòng ta không khỏi nghĩ về Nguyễn Tuân với niềm cảm mến. Quả vậy, chẳng thay đổi gì, niềm yêu thích của ông vẫn là cái đẹp, chất tài hoa nghệ sĩ, phong ba sóng gió và những tài năng xuất chúng. Với Nguyễn Tuân, ông lái đò cũng là một nghệ sĩ, vì sự thuẩn thục điêu luỵên của ông đã biến vịêc lái đò thành một nghệ thụât! Và nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân thực thần diệu và điêu luỵên, đã tạo ra những phép so sánh, nhân hoá vượt qua mọi thủ pháp so sánh, nhân hoá thông thường, làm nên một tài năng Nguyễn Tuân, làm nên một hình tựơng ông lái đò thành công, đầy sức sống.

Dòng thời gian là người bạn nghiệt ngã của trí nhớ và những người hay hoài nịêm… Thụân theo dòng chảy vô thuỷ vô chung của nó, tất cả như mờ dần, nhoà dần, mất hút vào quên lãng như chiếc lá tịnh lại nơi cội cây. Nhưng ta sẽ không quên, chắc chắn sẽ không quên một hình tượng ông lái đò tài hoa trí dũng và một Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác. Ta không quên, vì chính sức sống nội tại mãnh lịêt của hình tựơng, nhưng cũng một phần là ở tài năng Nguyễn Tuân trong việc xây dựng nhân vật, một tài năng độc đáo, tài tình!

Nghệ thuật nằm ngoài sự băng hoại của thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”(Sedrin)

TRẦN LÊ DUY
(Học sinh 12 Chuyên Văn trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, niên khóa 2008-2011)

[NLVH] BÀI THƠ ANH, ANH LÀM MỘT NỬA MÀ THÔI...


Đề bài:
Nhà thơ Chế Lan Viên có viết trong sổ tay thơ:
“Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy.”
Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Bằng việc phân tích bài thơ “Thu điếu” (Nguyễn Khuyến), hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

BÀI LÀM


Thơ ca đối với con người, có lẽ cũng giống như bản nhạc mà người soạn nhạc Eduardo đã tặng Danhi nhân ngày cô tròn mười tám tuổi trong “Lẵng quả thông” của Paustopsky. Bản nhạc ấy khiến cô nghe thấy tiếng động của quê hương, của tiếng tù và lưng núi,… nó khiến cô khao khát thét lên rằng “Hỡi cuộc sống ta yêu người”. Một tác phẩm nghệ thuật cũng vậy chăng? Nó tưới mát tâm hồn người bằng ngọn gió trong lành của chính cuộc sống mà ta đang sống, như khi ta đọc một vần thơ hay ta cảm thấy cuộc sống tràn đầy trong trái tim mình. Một tác phẩm văn học ra đời đều sinh ra từ cái nôi hiện thực, phảng phất hơi thở của thời đại cùng sự rung động tinh tế của nhà văn, như Chế Lan Viên đã nói:

“Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy”

Thơ ca vốn bắt nguồn từ cuộc sống mà tâmđiểm là hướng về con người, chúng ta luôn tìm được sợi dây liên kết vô hình giữa tiếng nói cất lên từ thơ ca hòa cùng tiếng nói tâm hồn mỗi con người. Thế giới trong trang thơ mở ra đâu đó luôn tồn tại những hình ảnh gần gũi từ thế giới hiện thực mà ta đang sống, có điều mới mẻ và đặc biệt hơn. Chất thơ vốn có trong hiện thực, bởi nếu không có mùa thu đẹp đẽ của cuộc đời, không thể có mùa thu của thi ca.  Đối với Chế Lan Viên, bản thân hiện thực đã là “một nửa” của bài thơ – đó chính là vẻ đẹp “mùa thu” vốn có trong cuộc sống, và một nửa còn lại nằm ở tâm hồn người nghệ sĩ. Để cho “mùa thu làm lấy” nửa kia của hồn thơ là việc người nghệ sĩ cần có, đặt trang thơ vào cuộc sống và làm sao cho hơi thở cuộc đời tràn đầy trong từng câu chữ. Đó là đặc trưng của thơ ca, phải luôn hướng về hiện thực và từ đó đi sâu vào thế giới nội tâm của con người.

Chế Lan Viên đã cho ta thấy được cái cốt lõi của văn học chính là phản ánh hiện thực cuộc sống, cùng với đó là mối quan hệ giữa nhà thơ và cuộc đời. Vẻ đẹp của thơ bắt nguồn từ cuộc sống và khả năng cảm nhận tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ. Tố Hữu từng nói: “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy”, khi những cảm xúc mãnh liệt đè nặng trái tim nhà thơ không thể nói thành lời, thì khi ấy thơ lại là nơi để giãi bày. Những vần thơ viết ra từ chính sự xúc động tâm hồn của nhà thơ trước cuộc đời là những vần thơ có giá trị hơn bao giờ hết. Nếu nhà thơ tồn tại trên cuộc đời chỉ giống như “một bông hoa điếc và không truyền đạt hết mình cho đồng loại tất cả phong phú của tư tưởng và tình cảm” đang tràn ngập trong chính tâm hồn người nghệ sĩ trước những tiếng vang vọng của cuộc đời, thì đó không phải là người nghệ sĩ chân chính. Sứ mệnh nhà văn  là như một “người nghệ sĩ trung thành của thời đại” (Balzac), anh phải giúp cho người đọc hình dung những gì đang diễn ra trong cuộc sống chúng ta tồn tại, nơi đó gây cho người đọc lòng trắc ẩn, tình yêu thương và ý thức phản khác lại cái xấu xa, tàn ác. Con người cần nhìn thấy những gì chưa bao giờ thấy, hiểu những gì chưa bao giờ biết, tất cả những câu trả lời mà độc giả muốn có mà tác giả mang lại đều phải xoay quanh chính cuộc sống hiện tại. Không ai muốn đọc một tác phẩm mà ở đó, ta không tìm thấy sự đồng điệu và chia sẻ hay qua xa lạ, như Chế Lan Viên cũng cho rằng:

“Đừng làm những câu thơ đi tìm kiếm sao Kim
Thứ vàng ấy loài người chưa biết đến”

Tài năng và tâm hồn nhà thơ là một yếu tố hết sức quan trọng nhưng công việc của nhà thơ không phải chỉ dừng lại ở đó, anh phải là người đi tìm kiếm “hạt thơ trên luống đất của những người dân cày” (Pautopsky) từ mảnh đất hiện thực và ấp ủ chúng trong trái tim mình, để lại cho đời những “đóa hoa thơ” thật đẹp. Những đóa hoa ấy sẽ trở lại tô điểm cho cuộc đời và cho loài người niềm an ủi, đồng cảm mãnh liệt nhất.

Trong nền văn học Việt Nam từ bao đời nay, có không ít những thi nhân tìm kiếm nguồn cảm hứng sáng tác từ trong thiên nhiên cuộc sống, đó là những bức tranh đầy kì vĩ, lộng lẫy cho đến những gì gần gũi và bình dị nhất. Đó có thể là một mùa hè êm đềm tràn đầy sức sống của Nguyễn Trãi trong “Cảnh ngày hè”, một mùa xuân quá đỗi yên bình và đầy tâm trạng trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, hay đối với với Nguyễn Khuyến ông đã miêu tả nên một bức tranh thiên nhiên mùa thu mang đậm chất làng quê Việt Nam, rất giản dị nhưng đầy tính nhân văn sâu sắc. “Thu điếu” nằm trong bộ ba bài thơ đặc sắc về mùa thu của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Bài thơ của ông đúng là bức tranh mùa thu hết sức sinh động, mà trong đó một nửa là mùa thu của thiên nhiên và một nửa còn lại là mùa thu của chính tâm hồn nhà thơ, cả hai đã hòa quyện vào nhau, tạo nên một tác phẩm bất diệt với thời gian.

Mở đầu  bài thơ “Thu điếu”, nhà thơ đưa người đọc đến với cảnh trời thu tĩnh lặng đặc trưng của vùng quê Bắc Bộ:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẹo teo”.

Những chất liệu dân dã đã đi vào câu thơ trong sự quan sát tinh tế và cảm xúc gần gũi của tác giả. Đó là “ao thu” trong tiết trời thu đến “lạnh lão” mang theo làn nước “trong veo” không gợi đục và tĩnh lặng vô cùng. Nước ao thu nay đến độ “lạnh lẽo” chứ không phải cái se lạnh thường thấy trong cơn gió mùa thu, sự “lạnh lẽo” qua cảm nhận của nhà thơ trong bức tranh mùa thu quê hương, hay phải chăng đó là sự “lạnh lẽo” của lòng người trước thời cuộc đổi thay? Từ giữa ao thu, điểm nhìn của nhà thơ mở rộng ra bao quát xung quanh, cảm nhận được chiều kích rộng lớn của khung cảnh thiên nhiên. Ở đó, mùa thu như rộng hơn, cao hơn và sâu hơn. Và càng mênh mông, rộng lớn thì con người trong khung cảnh thiên nhiên ấy càng thu lại nhỏ bé hơn, thu hẹp mình lại để hướng vào chiều sâu nội tâm cá nhân.  Con người đứng nhỏ bé trên “một chiếc thuyền câu bé tẹo teo”, chính vì ao nhỏ nên thuyền cũng nhỏ, không gian của bản thân con người thu hẹp lại và thế giới nội tâm cũng được mở ra, rộng mở giữa thiên nhiên. Nhan đề của bài thơ là “Thu điếu”, tức là câu cá mùa thu nhưng thực chất ở đây Nguyễn Khuyến chỉ tả cảnh thu mà không tả người, tả việc câu cá, phải chăng người ở đây đã tan vào cảnh, hòa vào nước thu trời thu? Hay ta có thể nhận ra, việc tả mùa thu câu cá chỉ là cái cớ, mà thực chất qua đó, nhà thơ gửi gắm những tâm tư tình cảm của mình trước thời đai. Sự giãi bày ấy gián tiếp bộc lộ qua cảnh làng quê thân thuộc, trong tiết trời mùa thu, mùa gợi cho người ta liên tưởng đến vẻ yên tĩnh, đến cái buồn man mác, mùa mà với thi nhân đó là nguồn cảm hứng bất tận:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Ở bốn câu thơ trên, Nguyễn Khuyến đưa tầm nhìn từ xa đến gần, miêu tả từ cảnh gần ở hai câu thực và đưa ra xa hơn ở hai câu luận. Cảnh vật có sóng biếc “gợn” thành hình và lá vàng “đưa” thành tiếng nhưng cả tiếng và hình ấy đều rất nhẹ, rất khẽ trong cái tĩnh lặng của toàn bài thơ. Qua đó, ta nhận ra cái cảm nhận hết sức tinh tế của nhà thơ trước cảnh vật thiên nhiên, không chỉ quan sát mà còn lắng nghe, không chỉ miêu tả mà còn cảm nhận, đó chính là cái tâm, cái tài của nhà thơ thể hiện rõ nét. Chỉ những tâm hồn tinh tế, nhạy cảm trước sự biến động của thiên nhiên mới có thể làm nên những câu thơ như chụp lại từng khoảnh khắc “theo làn hơi gợn tí”, “khẽ đưa vèo” theo thời gian và đóng khung vào ngôn từ vĩnh cửu. Trong ngôn từ ấy, tâm hồn nhà thơ vẫn được gửi gắm vào đó một cách tinh tế, “khẽ đưa” như gợi sắc thái nhẹ nhàng nhưng “vèo” lại chỉ tốc độ rất nhanh, đó là tâm trạng ngỡ ngàng của nhà thơ trước thời cuộc biến đổi nhanh chóng. Ở hai câu luận, cảnh thu như xa hơn một chút, cảnh bên ngoài giới hạn của ao thu, nhưng vẫn được nhìn từ ao thu, phía trên là bầu trời thu “lơ lửng trời xanh ngắt”, trước mắt là làng xóm mùa thu xung quanh có “ngõ trúc quanh co”. Cái màu trời “xanh ngắt” ấy là màu xanh khơi gợi vẻ đặc trưng của trời thu trong thơ Nguyễn Khuyến. Màu xanh vô cùng xuất hiện trong cả ba bài thơ thu của tác giả với:

“Trời thu xanh ngắt mấy từng cao”
(Thu vịnh)
“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”
(Thu ẩm)

Sắc “xanh ngắt” là màu đạt ở độ tinh khiết tuyệt đối, chỉ thuần một màu xanh không hề pha lẫn. Màu sắc của trời thu trong thơ Nguyễn Khuyến cũng trở thành nét đắc trưng ấn tượng trong bút pháp của ông. Sự sáng tạo trong nét chấm phá bầu trời mùa thu đã tạo nên “một nửa” hồn thơ trong tác phẩm hòa vào không gian rộng mở của mùa thư hiện thực ở nửa còn lại. Chẳng mùa thu nào mang cái biếc xanh đến tuyệt đối như mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến.

Ý thơ lại tiếp tục là sự đan xen giữa hồn thu của thiên nhiên, của hiện thực cùng với cái hồn thu trong lòng người đầy tâm trạng:

“Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

Tầm nhìn của nhà thơ đi từ gần ra xa, từ thấp đến cao nay lại trở về nơi quan sát ban đầu, nơi “ao thu” với “chiếc thuyền câu bé tẹo teo” bỗng vang lên sự xao động giữa không gian yên tĩnh. Đó là sự “trở mình” phá vỡ cái tĩnh lặng và ngưng đọng của cảnh thu, tiếng “đơp động” ấy như thực như ảo, có phải là tiếng động khi cá căn câu hay chính là sự xoay động trong chính tâm hồn của chủ thể trữ tình, của tác giả? Một lời tâm sự kín đáo của nhà thơ, một nỗi băn khoăn và dằn vặt trước cảnh đất nước điêu tàn. Tiếng cá đớp “động”, động đến tâm trạng của nhà thơ, trong suy nghĩ của người đọc, người ta chợt nhận ra vẻ câu cá an nhàn ấy là một tâm trạng đầy suy tư, thậm chí đau đớn trước cảnh nước nhà lúc bấy giờ. Đau trước sự thay đổi không ngờ của thời cuộc, đau vì bản thân bất lực không làm gì được và trong sự dằn vặt nội tâm ấy, Nguyễn Khuyến đầy cô đơn và trơ trọi giữa trời thu “lạnh lẽo”. Từ mùa thu hiện thực với lá vàng, trời xanh, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên bức tranh mùa thu chưa đựng suy tư cá nhân lên trang thơ, và khi đến tay người đọc, lại gợi lên những liên tưởng đầy ý vị. Ta cảm nhận được những vẻ đẹp bình dị nhưng tinh tế của làng cảnh quê hương, nghe vang dậy lời giãi bày, tâm tư kín đáo của tác giả tạo một sợi dây liên kết từ tâm hồn đến tâm hồn. Nói theo Chế Lan Viên, ta nhận thấy bài thơ của Nguyễn Khuyến là tiếng nói tâm trạng, cử sự suy tư và cảm xúc mà nhà thơ muốn bộc lộ, ấy là “một nửa” bài thơ do ông làm lấy. Thông qua khung cảnh chân thật của mùa thu vốn quen thuộc trong đời sống, trong hiện thực là “một nửa còn lại để cho mùa thu làm lấy”, giúp cho tiếng nói của nhà thơ được cất lên trọn vẹn và đầy đủ nhất. Từ hiện thực đến tâm hồn nhà thơ là sự kết hợp hoàn hảo trong công việc sáng tác, mà người ta gọi đó là “một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể” giúp tạo nên tác phẩm nghệ thuật vĩ đại.

Như lời Chế Lan Viên đã nói, tác phẩm nghệ thuật tạo nên từ cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ nhưng phải gắn liền với hiện thực. Không thể nào nhà thơ có thể khiến cho “nhãn quan con người tinh tường thêm”(Pautopsky), nếu tác phẩm của anh không phản ánh hiện thực cuộc sống, người đọc không thể cảm nhận được gì khi những gì người viết không có mặt cuộc sống của họ ở đấy. Quan sát và cảm nhận hiện thực là điều không thể thiếu trong nghề viết, bởi đối tượng văn học phản ánh chính là con người, khi “Văn học và cuộc đời là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Nguyễn Minh Châu) thì chỉ có đi sâu vào đời sống của con người, của xã hội hiện thực, bản thân người nghệ sĩ mới lột tả sâu sắc nhất bức chân dung mang tên “con người”. Khi Chế Lan Viên nói:

“Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy
Cái xào xạc hồn anh là xào xạc lá
Nó không là anh nhưng nó là mùa”

Câu thơ nói lên sự song hành giữa hiện thực và bản thân tâm hồn của tác giả trong một tác phẩm văn học, hiện thực được phản ánh trong tác phẩm nhưng phải là hiện thực được rung động trên nhưng cung bậc cảm xúc chân thật. Một hiện thực vĩ đại không làm nên một tác phẩm vĩ đại. “Đừng cậy thời đại oai hùng nếu tâm hồn anh quá bé” (Chế Lan Viên), văn học cần có tài năng và cái tâm của người nghệ sĩ. Bản thân mỗi nhà văn, nhà thơ là những chủ thể sáng tạo, đi tìm những hạt mầm khác nhau trên nền mảnh đất hiện thực chung. Mỗi nghệ sĩ chân chính sẽ có cách diễn đạt và miêu tả khác nhau để truyền tư tưởng đến người đọc, chúng đa màu và đa dạng như những bông hoa khác nhau, tỏa ra hương sắc riêng trên mảnh đất hiện thực cuộc sống. Đối với Nguyễn Du, mùa thu hiện ra diễm lệ,long lanh như chính bút pháp trau chuốt đẹp đẽ của ông:

“Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”
(Truyện Kiều)

Đối với Xuân Diệu lại là vẻ tiêu điều, u uất, buồn rầu như cái buồn khó đoán của người thiếu nữ:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”
(Đây  mùa thu tới)

Hãy chính là buồn thu tĩnh lặng, bình dị đến cô đơn trong bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến. Sự sáng tạo với các ngành khoa học phải lại trừ cái cá biệt để tìm đến quy luật chung, nhưng nghệ thuật là lĩnh vực của cái riêng, cái độc đáo: “Nghệ thuật là cái tôi, khoa học là chúng ta”. Người nghệ sĩ có thể tự do sáng tác theo cách riêng của mỗi người, mà mục tiêu chung là con người, là vì hiện thực cuộc sống

Lời nhận định của Chế Lan Viên có thể không phải là chân lý cuối cùng trong công việc sáng tác của nhà thơ, nhưng ý nghĩa và bài học mà nó để lại là vô giá. Nhà thơ phải đến với cuộc đời rộng lớn ngoài kia, bằng cảm xúc và tinh thần để nhận lấy những tinh chất của cuộc đời. Để rồi từ đó bằng tài năng và tâm hồn của mình, người nghệ sĩ để lại cho đời những tác phẩm sống mãi với thời gian.

Nhà thơ như chàng Samet đi nhặt những “hạt bụi” quý trong cuộc đời mênh mông vô tận để làm nên một “bông hồng vàng” giá trị, bông hồng đem lại niềm vui, cái đẹp cho tầm hồn người đọc thơ. Cái đẹp trong văn học là “cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật” (Thạch lam), từ chính ở hiện thực cuộc sống , nó phải đi qua một tâm hồn và trí tuệ, người làm thơ để cho người đọc một bài học “trông nhìn và thưởng thức”. Trước mắt là tâm hồn rộng mở của người làm thơ, cùng với đó là hơi thở thời đại mạnh mẽ vang dậy từ tác phẩm – đó là nghệ thuật đích thực.
LÊ XUÂN YẾN
11 CHUYÊN VĂN (NĂM HỌC 2016-2017)

[NLVH] NHÂN VẬT BAO GIỜ CŨNG LÀ YẾU TỐ MANG NGHĨA THỂ HIỆN CÁC GIÁ TRỊ NHÂN SINH



Đề:Có ý kiến cho rằng: “Trong tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện ngắn hay tác phẩm kịch, nhân vật bao giờ cũng là yếu tố mang nghĩa thể hiện các giá trị nhân sinh”
Anh (chị) hãy bàn luận về ý kiến trên.


BÀI LÀM

Nhà văn Phê-đin từng cảm thán về tác phẩm “Phục sinh” của văn hào Lev Tolstoy rằng: “Nhêkhliuđốp là một công cụ tinh vi, sắc bén – ngoài Nhêkhliuđốp ra, không ai có thể vạch ra tốt hơn những bí mật của bọn người nhà nước đang nắm giữ chính quyền, cũng như những bí mật của tâm hồn người Nga đang bị bóp nghẹt dưới chế độ Nga hoàng…Hãy thay thế Nhêkhliuđốp bằng một nhân vật khác, và như vậy “Phục sinh” cũng mất theo”. Phải chăng, nhân vật văn học chiếm một vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống còn của tác phẩm? Phải chăng, qua mỗi nhân vật ta sẽ hiểu hơn về những triết lý, giá trị của cuộc đời, sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về thời đại? Thật vậy, “trong tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện ngắn hay tác phẩm kịch, nhân vật bao giờ cũng là yếu tố mang nghĩa thể hiện các giá trị nhân sinh”

          Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó chính là phương tiện, là công cụ để người nghệ sĩ bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề nhức nhối của xã hội, những “giá trị nhân sinh” trong cuộc sống. Qua hình tượng nhân vật, bạn đọc sẽ có nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về cuộc đời. Hay nói cách khác, nhân vật văn học chính là chìa khóa để độc giả “hiểu biết, khám phá và sáng tạo thực tại xã hội” (Phạm Văn Đồng). Có thể nói rằng, nhân vật nghệ thuật chính là con thuyền chuyên chở những gửi gắm, tâm tư của người nghệ sĩ, để khi cập bến, bạn đọc sẽ nhận ra những bài học quý giá để hiểu đời hơn, hiểu mình hơn. Đã hoàn toàn chính xác khi nói rằng: “Trong tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện ngắn hay tác phẩm kịch, nhân vật bao giờ cũng là yếu tố mang nghĩa thể hiện các giá trị nhân sinh”.

          Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã cho rằng: “Văn học và cuộc đời là hai đường tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”. Phải chăng, nghệ thuật muôn đời vẫn mãi hướng ngòi bút về con người, lấy con người làm đối tượng để phản ánh? Chính số phận, tình cảm, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện là thứ đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn độc giả. Sẽ ra sao nếu người nghệ sĩ quên đi tầm quan trọng của con người đối với văn chương để rồi tìm kiếm những thứ quá xa vời, huyễn hoặc? Người đọc tìm đến nghệ thuật như thể tìm đến một suối nước trong lành để được nếm trải những kiếp người, những phận đời, những hoàn cảnh khác nhau để được hiểu con người hơn, để sống như một con nguời chân chính. Để đáp lại tình cảm đó, làm sao nhà văn có thể xây dựng nên những nhân vật một cách cẩu thả, hời hợt, mỗi nhân vật ra đời phải là kết tinh của cả một quá trình học hỏi, tìm tòi những sự thực ở cuộc đời.

          Có ý kiến cho rằng tác phẩm văn học phải khắc họa nhân vật “mang nghĩa thể hiện các giá trị nhân sinh”. Vậy “giá trị nhân sinh” ở đây là gì và tại sao văn chương phải phản ánh nó? Vấn đề nhân sinh là những thứ vốn tồn tại khắp mọi nơi trong cuộc sống chúng ta, chỉ vì đôi lúc chúng ẩn khuất đằng sau những bộn bề lo toan nên vô tình ta không nhìn thấy. Đó cũng là lí do vì sao nhà văn có nhiệm vụ giúp độc giả khám phá những chân lý, và nhân vật văn học là công cụ giúp họ hoàn thành sứ mệnh ấy. Nhà văn Ý Claudio Magris đã nhận xét: “Văn học không quan tâm đến những câu trả lời mà nhà văn đem lại mà chỉ quan tâm đến những câu hỏi do nhà văn đặt ra, và những câu hỏi này luôn luôn rộng hơn bất kỳ một câu trả lời nào”. Đến với mỗi tác phẩm, ta không thể là một độc giả thụ động chỉ biết chấp nhận những triết lý mà nhà văn đưa ra, ngược lại, họ phải tìm tòi và khám phá không ngừng để trả lời những câu hỏi mà người nghệ sĩ mở ra nơi số phận của nhân vật. Có bao giờ khi tìm đến một tác phẩm, ta bỗng cảm thấy hình như bản thân mình cũng cho chút niềm vui khi thấy nhân vật hạnh phúc? Có bao giờ ta đọc một áng văn, dõi theo cuộc đời một nhân vật để rồi cất lên câu hỏi: “Sao số phận họ lại bế tắc và khốn khổ như vậy?” hay “Sao cái ác lại lộng hành như thế?”,… Mỗi câu hỏi được đưa ra là một lần bạn đọc đến gần hơn với nhân vật, họ muốn lý giải những khúc mắc, những câu hỏi về cuộc đời của nhân vật ấy, để rồi từ đó sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa con người và thời đại. Marxim Gorki đã nói: “Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người”, bởi lẽ, khi một câu hỏi được giải đáp, độc giả sẽ hiểu về chính mình nhiều hơn.

Lỗ Tấn- một văn sĩ Trung Hoa với nhiều sáng tác vẫn mãi ám ảnh độc giả về những biến tướng, ung nhọt trong xã hội Trung Quốc thời bấy giờ. “A.Q chính truyện” là một trong số đó. Nhân vật A.Q được nhà văn xây dựng như một tấm gương không chỉ phản ánh cho một tầng lớp của xã hội mà còn mang tính dân tộc, tính nhân loại. A.Q được mô tả là một người nông dân nghèo khổ, hằng ngày đi lang thang khắp làng Mùi để làm thuê làm mướn. Cả cuộc đời A.Q là một con số “0” tròn trĩnh, là một chuỗi ngày tháng bị khinh miệt, ghét bỏ, đến nỗi người làng Mùi không giao tiếp với y bằng lời nói mà bằng gậy gộc, bằng những cái cười đùa, bằng những cái tát nảy lửa.

Nhưng nếu dừng lại ở đó, “A.Q chính truyện” sẽ đơn thuần là một lời kết án cho sự vô cảm, thiếu tình người của nhân dân Trung Quốc thời xưa. Lỗ Tấn đã tinh tế hơn khi gắn cho nhân vật A.Q một chứng bệnh-“phép thắng lợi tinh thần”. A.Q luôn ảo tưởng về một quá khứ giàu sang, huy hoàng, luôn khoe khoang về tổ tiên mình dù lai lịch của y rất đỗi mơ hồ, “tên, họ, quê quán đều mập mờ”. Đánh bạc bị lấy mất tiền, A.Q lại tự an ủi mình rằng: “Cứ cho là con nó cướp của bố nó đi” rồi lại tự cho mình là “đồ con sâu”. Ngay cả khi bị xử tử, dẫu có hơi hoảng nhưng y vẫn tự trấn tĩnh: “người ta sinh ra trong trời đất, trước sau cũng có thể một lần bị chặt đầu”.

Tình huống đặt ra đầy trớ trêu, nghịch lý. Sẽ có người cho rằng A.Q mất trí, A.Q không tỉnh táo, A.Q đã mê muội rồi. Thế tại sao Lỗ Tấn lại khắc họa một A.Q mù quáng như vậy? Sao không tạo nên một A.Q cam chịu số phận bi thảm để được người đời họ thương, họ mến? A.Q chết vì sao, phải chăng vì y mãi đến cuối đời vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫn bị “phép thắng lợi tinh thần” thôi miên bản thân để giúp chính mình vượt qua nghịch cảnh, để dễ dàng chấp nhận sự thất bại để mỉm cười sống tiếp.

Ban đầu, tôi đối với A.Q là một thái độ chán ghét, tôi ghét A.Q tại sao lại cứ nhốt mình trong ảo giác như thế, tôi ghét A.Q tại sao lại lừa dối và huyễn hoặc chính bản thân mình? Nhưng càng đọc, tôi càng thương nhân vật này hơn, càng nhận ra Lỗ Tấn chính là người thợ gốm đại tài khi tạc nên bức tượng A.Q mang đậm ý nghĩa tố cáo. A.Q dùng “phép thắng lợi tinh thần” để chuyển bại thành thắng, hắn lườm nguýt kẻ thù, cho mình là bố người khác, tự đánh mình mà lại có cảm tưởng là mình đánh người khác. “Liều thuốc tinh thần” ấy khiến A.Q vui, đã cứu vớt A.Q khỏi nỗi nhục nhã bị người đời khinh rẻ nhưng nó không làm A.Q hạnh phúc, đó mới là bi kịch. Chính nỗi bất hạnh cuộc đời A.Q đã vén bức màn đen tối của xã hội thời bây giờ. A.Q chính là sản phẩm, một sản phẩm điển hình nhất của xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến đầy quái thai, biến tướng. “Phép thắng lợi tinh thần” ấy phải chăng là căn bệnh của riêng mỗi A.Q, không, đó là căn bệnh chung của nhân dân Trung Hoa khi họ luôn cho rằng: văn minh vật chất phương Tây cao thật nhưng văn minh tinh thần Trung Quốc còn cao hơn. Họ sống trong hoài niệm về sức mạnh quá khứ, cố gắng dùng chút sức lực cuối cùng để níu kéo thứ uy quyền đã mất để tự trấn an bản thân. Nhưng càng tự cổ vũ bản thân, càng sống trong vỏ bọc tinh thần ấy thì họ càng bị giằng xé bởi chính thực tại phũ phàng. Rồi sẽ có nhiều A.Q nữa, họ cũng sẽ sống trong cảm giác đắc thắng, rồi cũng sẽ chết đi như A.Q thôi. Lỗ Tấn tạo nên A.Q không chỉ để vẽ nên một bức tranh thời đại đầy kì dị mà còn như một hồi chuông cảnh tỉnh, gọi thức sự tỉnh táo của người dân Trung Hoa. Như thế, A.Q đích thực là nhân vật “mang nghĩa thể hiện các giá trị nhân sinh” vì qua đó, nhà văn đã cứu vớt những con người thoát khỏi “căn bệnh A.Q”.

Nếu như bạn đọc nhớ tới A.Q như một nhân vật vô cùng đáng thương, phải sống với “phép thắng lợi tinh thần” để chống chọi những đổi thay của xã hội thì khi đến với tác phẩm “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng, ta lại bắt gặp một Vũ Như Tô rất khác. Vũ Như Tô khác với A.Q ở chỗ ông là người tài hoa, có khát khao và hoài bão, nhưng điểm chung giữa họ là cuộc đời đều rơi vào bi kịch. Qua lời kể của Đan Thiềm, Vũ Như Tô hiện lên với tài năng đạt đến mức độ siêu phàm, có thể “chỉ vẩy bút là chim, hoa đã hiện lên trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công”. Ông muốn trổ hết tài năng để xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao” để cho dân ta “nghìn thu còn hãnh diện”. Nhưng trong hoàn cảnh thực tại, ước mơ ấy lại hóa phù phiếm, nó sang trọng đấy, nhưng lại đi ngược với cuộc sống nhân dân, nó đẹp đẽ nhưng đẫm máu như một “bông hồng ác”. Và ngay chính tận cùng của hoài bão ấy, Vũ Như Tô bị đẩy vào bi kịch đầy đau đớn. Người nghệ sĩ tài hoa ôm trong mình giấc mộng xây dựng đài Cửu Trùng để “tranh tinh xảo với hóa công”, nhưng làm sao có thể hoàn thành giấc mộng nếu nó đem lại đau khổ cho nhân dân. Ngay thời khắc Cửu Trùng Đài bị cháy, Vũ Như Tô mới nhận ra sự thực về giấc mộng lớn đã tan tành, ông hét lên đầy kinh hoàng và tuyệt vọng: “Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”. Nỗi đau vỡ mộng hóa thành tiếng kêu khắc khoải, bi thiết, Vũ Như Tô đã chết trước khi ra pháp trường- chết về ước mơ và hoài bão.

Cái chết của Vũ Như Tô khép lại tác phẩm nhưng lại mở ra muôn vàn câu hỏi cho bạn đọc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và nhân dân, giữa nghệ thuật và cuộc sống.

Vậy nên hay không nên xây Cửu Trùng Đài? Đối với Vũ Như Tô, sự lựa chọn nào cũng dẫn đến cái chết: hoặc chấp nhận cuộc sống cam chịu mà phí tài trời, hoặc hy sinh cả mạng sống để đổi lấy ước mơ,… Phải chăng, sự chết chính là cái giá vô cùng đau đớn mà người nghệ sĩ phải trả cho sự dấn thân tìm kiếm bản ngã, tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình.

Vậy Vũ Như Tô phải hay người giết Vũ Như Tô phải? Xuyên suốt cả tác phẩm là những lượt lời trao đổi qua lại nhưng thực chất các nhân vật dường như độc thoại, vì lẽ họ không tìm được tiếng nói chung. Nhân dân đứng trên nỗi khổ, nhìn Cửu Trùng Đài như cái ác đáng bị tiêu diệt nhưng Vũ Như Tô lại đứng trên lý tưởng, nhìn đài Cửu Trùng như cái đẹp. Bi kịch giáng xuống cả cái đẹp và cái thiện: khi cái đẹp dửng dưng mọc rễ từ máu và nước mắt của cái thiện, nó sẽ bị cái thiện bức tử, còn cái thiện, khi nó nhảy múa vui vẻ trên cái xác rực lửa của cái đẹp, nó cũng đã đốt cháy và hủy diệt chính mình.

Những câu hỏi này được mở ra từ bi kịch của Vũ Như Tô nhưng ngay cả tác giả, ngay cả chính nhân vật này cũng không thể tìm ra lời giải đáp. Có lẽ rằng, mỗi bạn đọc tìm đến với tác phẩm, khi họ hòa mình vào số phận nhân vật, đặt để bản thân mình trong hoàn cảnh đó mà suy xét, họ sẽ tìm được câu trả lời cho chính mình. Và như vậy, ở tác phẩm “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”, Vũ Như Tô chính là nhân vật đích thực, là “yếu tố mang nghĩa thể hiện các giá trị nhân sinh”.
Cả A.Q hay Vũ Như Tô đều hoàn thành trách nhiệm của một nhân vật nghệ thuật, đó là nơi bạn đọc có thể soi rọi vào mà nhìn nhận chính mình, là tấm gương phản chiếu thực tại, là “cuốn sách giáo khoa của đời sống” giúp ta khám phá ra nhiều chân lý. Nhà văn ơi, xin anh đừng dựng nên những bức tượng vô hồn, những nhân vật không mang nhiều ý nghĩa mà hãy nhớ rằng: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” (Bertolt Brecht). Còn về phía bạn đọc, anh đừng để văn chương trôi qua tâm trí mình cách vô nghĩa, hãy sống với nhân vật, vì từ đó, anh sẽ hiểu hơn về cuộc đời.

Điều gì đã làm nên sức sống mãnh liệt của văn chương? Mỗi nhân vật là một cuộc đời riêng, là một viên gạch nhỏ làm nên bức tường thành nghệ thuật vững chắc. Qua mỗi nhân vật ta thấy cả một tầng lớp, một giai cấp, một thời đại, thậm chí có nhân vật vượt lên khỏi thời đại, có ý nghĩa nhân loại, vĩnh cửu sống mãi với thời gian.

HUỲNH NGUYỄN BẢO TRÂN
LỚP 12 CHUYÊN VĂN TRƯỜNG THTH ĐHSP  NIÊN KHÓA 2015-2018


[NLVH] VĂN CHƯƠNG CÓ QUYỀN NHƯNG KHÔNG CHỈ MIÊU TẢ CÁI XẤU XA, CÁI GHÊ TỞM, CÁI HÈN NHÁT...


Đề bài:
“Văn chương có quyền nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”(Nguyễn Khải)
Anh (chị) hãy bàn luận về ý kiến trên.


BÀI LÀM

Ai đã trót mê đắm văn chương, đặc biệt là văn học Nga, chắc hẳn sẽ một lần đọc qua tuyệt tác “Anna Karenina” của nhà văn Lev Tolstoy. Và có hay chăng, ta sẽ trách Tolstoy quá tàn nhẫn với Anna khi bắt nàng lao vào gầm xe lửa? Thế nhưng, càng ngẫm nghĩ kỹ, ta sẽ nhận ra cái chết của Anna dẫu rất đỗi bi thương, dẫu lột tả bức tranh thời đại vô cùng u ám, tối tăm nhưng vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng rực rỡ của trái tim yêu mãnh liệt, thứ ánh sang lung linh từ tâm hồn. Phải chăng, đó là một quy luật của nghệ thuật chân chính, cái mà văn học hướng tới vẫn là cái đẹp, cái cao cả? Xét về vấn đề này, nhà văn Nguyễn Khải từng khẳng định: “Văn chương có quyền nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”

Mọi vật chất tồn tại đều có ý nghĩa của nó, và văn chương cũng vậy. Cùng phản ánh về cuộc đời, về con người, vậy đâu là sự khác biệt giữa văn học với lịch sử hay triết học khi văn học luôn phải gắn liền với dòng chảy thời gian và đỉnh cao của nó là đưa ra một triết lí nhân sinh? Nhưng văn học vẫn có một đặc điểm riêng biệt, đó là phản ánh con người trên phương diện thẩm mỹ. Nhà văn Nga Dovtoepxki từng nói: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới”. Sự khu biệt rõ ràng nhất giữa văn học và lịch sử, triết học chính là nhìn nhận cuộc sống trên phương diện của cái đẹp. Lịch sử loại trừ cái nhìn chủ quan, triết học chỉ quan tâm đến những vấn đề cốt lõi, còn văn học, sự phản ánh nhất thiết phải gắn với cái đẹp. Ngay cả khi miêu tả những thứ xấu xa, giả dối thì văn học vẫn đi theo kim chỉ nam mang tên cái đẹp, mục đích cuối cùng và cốt lõi của văn học vẫn là hướng con người đến cái đẹp, đến những giá trị chân thiện, mỹ. Văn học không thể không phản ánh cái xấu xa, giả dối, nhưng mục đích vẫn là hướng bạn đọc tới cái đẹp, để ta biết thêm trân trọng, yêu quý những giá trị cao thượng. Đã hoàn toàn chính xác khi nhà văn Nguyễn Khải nhận định: “Văn chương có quyền nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung”

Trước hết, có lẽ Nguyễn Khải muốn khẳng định cái “quyền" được nói về “cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát" mà cho đến nay đâu phải nhà văn nào cũng dám nói. Đã có lúc ta quan niệm rằng văn chương chỉ được quyền miêu tả những điều tốt đẹp, cao cả trong cuộc sống. Đã có lúc ta cho rằng tác phẩm viết về những điều bất nhân, giả dối là vết dơ và điều đó đáng bị đào thải. Phải chăng quan điểm có tính chất ấu trĩ ấy bắt nguồn từ việc hiểu con người không thật đầy đủ, thấu đáo? Nghệ thuật là tấm kính khúc xạ mọi hình ảnh của cuộc đời, của thời đại, vậy thử hỏi, tại sao hiện thực tồn tại những điều xấu xa, tồi tệ còn văn chương lại không? Nhà văn Nga Secnuepski từng khẳng định: “Ngoài việc tái hiện đời sống, nghệ thuật còn có chức năng khác là thuyết minh cuộc sống”, thật vậy, văn học buộc phải cho con người có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về bộ mặt cuộc đời, vậy nên không thể loại bỏ những điều giả dối, xấu xa khỏi ngòi bút. Nhiều người cho rằng việc ngó lơ cái xấu chính là cách thức nhân đạo hóa con người, nhưng liệu điều đó có khiến con người tốt hơn không, hay nó sẽ làm cho ta ảo tưởng về cuộc sống, để rồi đến một lúc ta sẽ rơi vào hố sâu tuyệt vọng vì vỡ mộng? Nhà phê bình Belinski đã nói: “Khi cảm nhận cái xấu, con người trở nên cao hơn cái xấu và hướng tới cái tốt, cái đẹp”, vậy nên, muốn khiến con người tốt hơn, văn chương trước hết phải giúp họ nhận thức và tự nhận thức.

Nhà văn người Trung Quốc Lỗ Tấn đã không ngần ngại vạch trần những điều giả dối và vô lý đến nỗi “Cụ cố Triệu tát cho A.Q một cái vào mặt thì nhất định A.Q là người có lỗi rồi, không cần bàn cãi” hay chỉ ra một thói tật, một căn bệnh của sự hão huyền mang tên “phép thắng lợi tinh thần”. Hay như “ông vua phóng sự đất Bắc” Vũ Trọng Phụng với tác phẩm “Số đỏ” như bức chân dung biếm họa đã lên án cái kệch cỡm, cái xấu xa của con người trong cái thời đại mà giá trị đạo đức bị xem rẻ. Rồi Victor Hugo với kiệt tác “Những người khốn khổ” của mình lên án xã hội tư sản Pháp đã đầu độc cuộc sống con người, đã phủ lên nước Pháp phồn hoa tươi đẹp một mảng màu đầy tăm tối, đã làm cho những em bé như Cossette chịu đày đọa từ trong bụng mẹ, làm cho những cô gái xinh đẹp như Fantine từ bỏ cuộc đời trẻ trung của mình, làm cho Jean Valjean phải trở thành con người khốn khổ nhất trong những người khốn khổ. Văn học không nên tránh né, nó có “quyền” miêu tả những “cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát”, và thông qua đó, sẽ giúp bạn đọc có nhận thức đúng đắn về cuộc sống, khơi lên ở con người “ý thức phản kháng cái ác, khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp” (Aimaitop)

Nhà phê bình người Nga Belinski đã nhận xét: “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật”. Vậy, cái đẹp, cái cao cả là những giá trị tất yếu trong quá trình phản ánh cuộc sống của văn chương. Từ thời Hy Lạp-La Mã cổ đại, đã có rất nhiều nhà triết học đã đưa ra vô số quan niệm về cái đẹp, hay còn gọi là phạm trù mỹ học. Arixtot cho rằng nghệ thuật mô phỏng tự nhiên và con người có khoái cảm khi ngắm nhìn nghệ thuật, hay nói cách khác, “cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật” (Hà Minh Đức). Khi cảm thụ, chiêm ngưỡng những hiện tượng đẹp đẽ của tự nhiên, văn học luôn tác động vào tâm hồn con người những phản ứng, cảm xúc mãnh liệt, làm con người hân hoan, sung sướng, khơi dậy những khoái cảm trước cuộc đời. Và hơn thế, văn chương nghệ thuật là lĩnh vực sang tạo dựa trên những tiêu chí của cái đẹp, là kết tinh của cái đẹp. Nghệ thuật có khả năng vĩnh viễn hóa cái đẹp, ghi nhận và lưu giữ từng khoảnh khắc của cái đẹp trong cuộc sống để rồi biến nó thành vĩnh cữu như cách nhà thơ Lò Ngân Sủn định nghĩa cái đẹp như vị thần Vệ nữ:

“Cha mẹ sinh ra nàng
Gọi nàng là người con gái
Nghệ thuật sinh ra nàng
Gọi nàng là thần Vệ nữ
Nàng sinh ra lần thứ nhất – để chết
Nàng sinh ra lần thứ hai – để sống mãi”
                                                (Nàng)

          Cái đẹp mà văn học hướng tới chính là cái đẹp của cuộc đời được chắt lọc, kết tinh để có hình hài sắc vóc riêng, có hơi thở sống như một sinh linh kì diệu. Nếu không có văn học, sao ta có thể hình dung về một nước Nga thanh bình, yên ả trước thế chiến thứ II với những người dân Nga nồng nhiệt, đôn hậu? Khi đọc truyện của Paustovski, bạn đọc phải thả mình lơ lửng mơ màng theo từng hình ảnh hiện lên qua câu chữ, phải đọc thật chậm rãi để những ý tứ thấm vào đầu như mưa dầm thấm đất. Chiến tranh xuất hiện rất nhiều trong tác phẩm Paustovski nhưng nó không phủ lên một mảng màu khốc liệt với máu, nước mắt cùng những niềm tuyệt vọng. Chiến tranh trong truyện ông là lá thư anh lính thủy gửi cha mình: "Con luôn nhớ đến cha, đến ngôi nhà của cha con ta, đến tỉnh lỵ của chúng ta…" (Tuyết), là "bài Macxâye vang vang, tràn ngập ngôi nhà, khu vườn và hình như nó tràn ngập cả rừng và đêm tối…" (Lời cầu nguyện của Madam Bôvê), là cuộc phiêu lưu kỳ diệu của chú bọ sừng dũng cảm mà cậu bé Xtêpa tặng cho cha mình trước khi bác từ giã xóm làng lên đường ra trận (Cuộc phiêu lưu của bọ sừng), là "những chiếc máy bay bay đến lượn trên các thửa rừng, trên các nóc nhà, thân lấp lánh…” (Vườn nhà bà…). Kể cả với những điều xấu xa và tuyệt vọng nhất của thế giới này, Paustovski vẫn giống như người quét rác Giăng Samet tốt bụng trong truyện ngắn “Bông hồng vàng”, cần mẫn sàng đãi trong rác rưởi lọc ra những bụi vàng lấp lánh đem đúc thành bông hồng nhỏ- bông hồng mang đến hạnh phúc cho những ai may mắn sở hữu. Tác phẩm đậm tính nhân văn của tác giả người Nga đã khiến tâm hồn bạn đọc có những phút giây rung cảm trọn vẹn trước cái đẹp, nhắc nhở chúng ta về những điều đẹp đẽ, những niềm hạnh phúc nhỏ nhắn mà chúng ta đã bỏ quên hay xem như xa xỉ trong cuộc sống vội vã của mình. Như cách nhà thơ Ingheman nhận xét về Andersen trong truyện ngắn “Người kể chuyện cổ tích”, Paustovki “có một khả năng quý báu là trong bất cứ cống rãnh nào anh cũng tìm ra được ngọc trai"

Văn chương không đưa ta xa rời thực tế, không mở ra những chân trời hão huyền, viển vông, thứ mà nhà văn, nhà thơ đích thực vẫn tìm kiếm bấy lâu nay chính là “hạt ngọc ẩn giấy trong bề sâu tâm hồn con người” (Nguyễn Minh Châu), là “cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung” mà Nguyễn Khải nhắc đến. Khi ấy, nghệ thuật mới thật sự trở thành “thanh nam châm thu hút mọi thời đại”,  “nâng giấc cho những người cùng đường tuyệt lộ”, giúp họ tìm đến suối nguồn của cái đẹp, khiến họ thanh lọc tâm hồn, để “trong đời có nhiều công bằng, yêu thương hơn” (Thạch Lam). Còn nhớ, Nam Cao, qua số phận đầy bi kịch của Chí Phèo cốt không phải để nhấn mạnh vào sự lưu manh của “con quỷ dữ làng Vũ Đại”, thứ mà nhà văn muốn phản ánh chính là phần người còn sót lại trong Chí Phèo- một con người đáng thương hơn đáng giận, đồng thời truyền tải một thông điệp rằng chỉ có lòng tốt mới có thể cứu rỗi linh hồn con người. Cũng như thế, Thạch Lam trong những trang viết giàu chất thơ của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã tinh tế đã nói lên một sức sống tiềm tàng mãnh liệt, một niềm tin vào tương lai tươi sáng hơn, một khát khao thoát khỏi cuộc sống tù đọng, ngột ngạt của những người dân phố huyện. Những con người nơi đây như rễ cây cắm sâu vào lòng đất, dẫu mảnh đất ấy có khô cằn bao nhiêu đi nữa thì họ vẫn hút được nhựa sống mà vươn đến một ngày mai đầy hy vọng.

Nhìn chung, cái thiện hay cái ác, cái cao cả hay cái thấp hèn đều là những phạm trù mỹ học mà tác phẩm văn chương nào cũng cần phải có. Vì thế, người nghệ sĩ dù lên án cái xấu hay ca tụng cái đẹp vẫn phải phản ánh nó với tất cả cái tâm, cái tài của mình. Hay nói như nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Dù anh viết ngược viết xuôi thế nào, dù cho rằng anh viết về sự giận dữ, về lòng căm thù, về nỗi đau chán chường thì rốt cuộc vẫn để truyền thổi vào tâm hồn người đọc một niềm tin, một tình yêu bát ngát vào cuộc sống". Vì thế, tác giả ơi, anh có quyền chọn một con đường, một lối đi riêng cho hành trình sáng tác của mình, nhưng anh hãy nhớ rằng, đích đến cuối cùng vẫn là hướng bạn đọc đến những giá trị chân-thiện-mỹ, bởi lẽ, “thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung” (Nguyễn Khải)

Marxim Gorki nhận xét rằng: “Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người”. Muốn làm được điều đó, văn học nghệ thuật phải tuân theo nguyên tắc: “Văn chương có quyền nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung” (Nguyễn Khải).

HUỲNH NGUYỄN BẢO TRÂN
LỚP 12 CV TRƯỜNG THTH ĐHSP TPHCM NIÊN KHÓA 2015-2018

[NLVH] NHÀ THƠ VẪN VẸN NGUYÊN QUA TRĂM LẦN THỬ LỬA


Đề bài:
“Nhà thơ lớn ư? Là để cho nhân loại yêu mình bằng mọi cách
Khi thì nâng niu, khi thì hạch sách
Khi giày vò mỗi chữ
Khi trân trọng ngắm từ xa
Nhà thơ vẫn vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa
Yêu mà”
(Chế Lan Viên)
Hãy bình luận về vấn đề gợi ra từ đoạn thơ trên.




BÀI LÀM

 Độc giả trung thành của văn chương qua bao thời đại vẫn yêu quý “Iliad” (Hô-me-rơ)- thiên sử thi kinh điển của văn minh châu Âu với cuộc chiến khốc liệt giành lấy thành Troa thuở xưa, vẫn say mê với mối tình thủy chung của Rama và nàng Sita trong trường ca Ấn Độ “Ramayana”,… Điều gì đã khiến những tác phẩm từ thời xa xưa vẫn trường tồn, vẫn sống mãi với thời gian? Dẫu có nhiều bàn luận cùng những ý kiến trái chiều, những “đứa con tinh thần” ấy vẫn vẹn nguyên giá trị qua bao thế hệ? Phải chăng, điều kì diệu bắt nguồn từ sự tài năng và tâm hồn dạt dào xúc cảm của người nghệ sĩ? Để trả lời câu hỏi này, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Nhà thơ lớn ư? Là để cho nhân loại yêu mình bằng mọi cách
Khi thì nâng niu, khi thì hạch sách
Khi giày vò mỗi chữ
Khi trân trọng ngắm từ xa
Nhà thơ vẫn vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa
Yêu mà”   

       Cuộc sống cung cấp một kho tàng ý tưởng vô cùng phong phú và quý giá cho người nghệ sĩ sáng tác nhưng đó cũng chính là thứ lửa thử vàng, đánh giá xem tác phẩm ấy có xứng đáng để mọi người đón nhận hay sẽ trôi vào dòng chảy nhợt nhạt, chán chường. Vậy nên, cùng một loại đất sét cuộc đời, nhưng trở nên một bình gốm tuyệt mỹ hay chỉ là một đống đất vô nghĩa phụ thuộc vào tài năng và tâm hồn của tác giả. Họ thai nghén nên tác phẩm, đưa nó đến gần hơn với bạn đọc, đôi lúc nhận về sự đồng cảm, nhưng cũng có lúc vấp phải những bình luận trái chiều, đó là những “cách yêu” khác nhau của nhân loại. Văn chương đích thực phải cho phép độc giả đào sâu vào nhiều tầng nghĩa, khám phá những bí ẩn còn khuất lấp bên trong, đưa ra những quan điểm riêng để kiến tạo tác phẩm. Nhà thơ chỉ “vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa” khi sáng tác của họ neo đậu nơi tâm hồn bạn đọc, tạo nên “sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại” (Hoài Thanh), hoàn thành sứ mệnh là trở thành “cuốn sách giáo khoa của đời sống” giúp con người hiểu đời, hiểu mình hơn. Tài năng và tâm hồn là yếu tố làm nên một người nghệ sĩ thật thụ, một “nhà thơ lớn”!

Nhà văn Nam Cao đã viết: “Một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho tất cả loài người”, vậy điều gì đã làm nên sức sống mãnh liệt của văn chương, đã cho nó sức mạnh vượt qua mọi “bờ cõi và giới hạn” như vậy? Một tác phẩm chân chính như hạt mầm xanh được vun trồng nơi mảnh đất cuộc đời đầy nắng gió nhưng phải nhờ dòng nước mát lành chảy từ tâm hồn của nhà thơ mà lớn lên. Sẽ ra sao nếu tác giả từ cô lập mình ra khỏi cuộc sống, không đắm mình dưới cơn mưa thời đại mà tạo nên tác phẩm? Như một quy luật bất biến của nghệ thuật, văn chương sinh ra đã phải cắm rễ vào hiện thực, vậy nên, nhà thơ không thể quay lưng lại với cuộc sống, thả mình vào thế giới mộng tưởng, viển vông mà thai nghén nên “đứa con tinh thần” của mình được. Bắt nguồn từ hiện thực nhưng không có nghĩa là nhà thơ sẽ sao chép nguyên xi mọi thứ vào tác phẩm của mình. Họ chỉ rộng mở tấm lòng để đón lấy những âm vang cuộc sống, quan tâm sâu sắc để những biến chuyển, đổi thay của thời đại, hướng tới sự đồng cảm và sẻ chia với mọi người. Nhà thơ chỉ “vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa” khi họ biết vui với niềm vui cuộc sống, đau trước nỗi đau nhân thế, biết “hiến dâng bầu máu nóng của mình cho nhân loại” (Lev Tolstoy). Nhà thơ Nga Lermontov từng tâm sự: “Có những đêm không ngủ, mắt rực cháy và thổn thức, lòng ngập tràn nhớ nhung…Khi đó tôi viết”, cảm xúc mãnh liệt và cháy bỏng chính là dòng nhựa sống nuôi dưỡng trang thơ, là cây cầu kết nối những trái tim, đưa “điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” (Tố Hữu)

Còn nhớ, Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” được Mộng Liên Đường chủ nhân nhận xét như có “máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy”, có lẽ rằng, đại thi hào họ Nguyễn đã dành tất cả tâm huyết, cả bầu máu nóng của mình mà làm nên tác phẩm. Đó không phải là tình cảm thông thường, mà là tình cảm đã được ý thức, được sinh ra từ những tư tưởng lớn, là tình cảm cho cả nhân loại. Xót thương cho những phận đời “tài hoa bạc mệnh” như nàng Kiều hay Đạm Tiên, Nguyễn Du viết:

“Rằng: hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”

Từng dòng thơ, con chữ như một tiếng kêu ai oán cho số kiếp hồng nhan nhưng bạc phận, tuy tài hoa nhưng cuộc đời đầy sóng gió. Phải thương Kiều, yêu Kiều lắm, phải đặt cả tâm hồn vào nhân vật thì Nguyễn Du mới có thể khóc thương cho cuộc đời nàng như vậy. Chính tấm lòng nhân đạo của tác giả đã dấy lên sự đồng cảm sâu sắc, mãnh liệt nơi bạn đọc. Chu Mạnh Trinh từ cuối thế kỷ XIX đã tự coi mình là nòi đa tình, thương cảm sâu sắc với nàng Kiều như một người đồng điệu: “Bộc bản đa tình, cảm thâm đồng điệu”. Rồi đến vua Minh Mệnh khen Kiều đủ trung, hiếu, tiết, nghĩa, “nêu danh giáo và phong lưu muôn thuở”. Hay qua cách mà nhà văn Phạm Quỳnh cảm thán về tác phẩm rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” cũng đủ chứng tỏ “Truyện Kiều” được độc giả đón nhận và trân trọng như thế nào. Nhà thơ Tố Hữu cũng bộc bạch sự kính trọng cùng lòng ngưỡng mộ đối với đại thi hào họ Nguyễn:

“Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du)

“Truyện Kiều” là tiếng kêu đứt ruột, làm náo động cả không gian trước “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, mãi day dứt không nguôi trong lòng bạn đọc về lòng xót thương cho những kiếp người tài hoa bị xã hội vùi dập. Người đời đối với Kiều là “nâng niu”, trân trọng ngắm từ xa”, nhưng phải chăng hành trình 200 năm “Truyện Kiều” chỉ có vậy? Với nhiều quan điểm trái chiều xuất phát từ cách nhìn nhận của mỗi thời đại, sự “hạch sạch” hay “giày vò” là điều không thể tránh khỏi. Nếu đứng trên lập trường Tống Nho xem “chết đói là sự nhỏ, thất tiết là sự lớn” thì quả thật việc Kiều không tự tử mà chấp nhận cuộc sống nhục nhã suốt hàng chục năm trời ấy là điều đáng lên án. Cũng trên quan điểm ấy, Nguyễn Công Trứ cũng có những chỉ trích rất nặng nề trong tác phẩm “Vịnh Thúy Kiều”:

“Bạc mệnh chẳng làm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”

Cũng có rất nhiều người dựa trên lập trường đạo đức nghiêm khắc để xét đoán “Truyện Kiều” như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng cho rằng tuy văn chương hay nhưng tác phẩm vẫn không thể tránh khỏi “cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng”,…
Từ khi ra đời đến nay, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã có nhiều cách tiếp nhận , đánh giá khác nhau, “kẻ khen, người chê”, người “nâng niu”, kẻ “hạch sách”, người “trân trọng ngắm từ xa”, kẻ “giày vò mỗi chữ”. Dẫu như thế nào, ngọn lửa sức sống của “Truyện Kiều” vẫn không thể bị hủy diệt, dù Nguyễn Du có mất đi nhưng nàng Kiều vẫn đi vào cõi bất tử và thi hào chính là “nhà thơ lớn” của mọi thời đại. Phải chăng, Nguyễn Du với “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời”, “đôi mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng thơ với tình đời thiết tha” đã làm nên sự kì diệu đó? Từ ngàn xưa cho đến bây giờ hay mãi sau này, “Truyện Kiều” vẫn sống với sức sống mãnh liệt của nó, vẫn được yêu quý, trân trọng như nhà thơ Chế Lan Viên đã nói: “Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn”.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã bày tỏ quan điểm của mình về nghệ thuật: “Muốn viết văn, trước hết phải sống. Đừng có cậy ở thiên tài. Thiên tài chỉ cho ta nghệ thuật, sống mới cho ta nội dung”, nhà thơ viết về cuộc sống, đúng, nhưng nó không thể là những câu thơ hời hợt và tẻ nhạt. Thơ hay, ngoài chứa đựng dòng cảm xúc sâu sắc còn phải được viết nên từ tài năng của tác giả. Người nghệ sĩ phải có đôi mắt tinh tường để nhận thấy sự chuyển biến của thời đại, nắm bắt sự thay đổi của cuộc đời. Không những vậy, nhà thơ còn cần đến vốn kiến thức sâu rộng, bao quát từ văn hóa, nghệ thuật đến triết học, tôn giáo, lịch sử, xã hội,… như thế, “đứa con tinh thần” của họ khi được sinh ra sẽ mang đậm dấu ấn thời đại, cắm rễ vững vàng vào lòng đất mà lớn lên, đơm hoa kết trái làm đẹp cho đời. Tài năng của nhà thơ sẽ là nền tảng kiên cố, chắc chắn để giữ gìn giá trị tác phẩm, khiến nó sống mãi với năm tháng và người nghệ sĩ vẫn mãi “vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa”. Thử hỏi, nếu không có tài năng, không có vốn kiến thức phong phú về xã hội thời bấy giờ, sao nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể viết nên hai tập thơ “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” được mệnh danh là thành tựu lớn của thơ ca trung đại Việt Nam, mở đầu cho dòng thơ “chạm chân vào hiện thực”? Hay như Quang Dũng được mọi người biết đến là một nhà thơ đa tài, “cầm, kỳ, thi, họa”, vì thế, mỗi tác phẩm mà ông viết ra, đặc biệt là “Tây Tiến” sẽ rực rỡ như một bức tranh thời đại đầy màu sắc, sẽ âm vang như giai điệu ngọt ngào của bài ca cuộc sống. Chỉ vài câu thơ thôi mà người đọc có thể hình dung bức tranh phong cảnh của vùng núi Bắc Bộ hiện lên với vẻ hoang sơ nhưng đầy thơ mộng:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Song song với tâm hồn chứa chan xúc cảm, vốn hiểu biết phong phú, sâu rộng về cuộc đời, người nghệ sĩ đích thực muốn “vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa” còn phải có cá tính độc đáo, sáng tạo, có tiếng nói, giọng nói riêng. Nếu nhà thơ không có dấu ấn cá nhân, không có sự đột phá trong phong cách sáng tác, tác phẩm mà họ viết ra sẽ trôi dần vào quên lãng, và người nghệ sĩ sẽ mãi loay hoay trong lối mòn lặp lại người khác, lặp lại chính mình. Hay nói như Phương Lựu: “…đó là một sự tự sát trong văn học, một lĩnh vực tối kỵ sự nhai lại ngay cả đối với những chân lý quan trọng”, vậy nên, nhà thơ sẽ không thể đối mặt với cuộc đời, với độc giả khi tác phẩm của họ hoàn toàn mờ nhạt, lặp lại người khác. Thử hỏi, khi ấy tác giả có còn “vẹn nguyên qua trăm lần thử lửa” được không? Việc đánh mất cá tính sáng tạo cùng phong cách độc đáo sẽ khiến nhà thơ trở nên loại “nghệ sĩ con rối” (Chế Lan Viên), để rồi đến một lúc, họ không còn là chính mình nữa:

“Người diễn viên ấy đóng trăm vai vai nào cũng giỏi
Chỉ một vai đóng không nổi:
Vai mình!”
(Nghĩ về thơ)

Bạn đọc tìm đến với thơ ca trước hết là tìm sự mới mẻ để thanh lọc tâm hồn, để thêm yêu đời, yêu cuộc sống. Vậy nếu nhà thơ cứ lặp đi lặp lại chính mình, hay trăm nhà thơ mà nhất cử, nhất động đều như một, độc giả sẽ cảm thấy chán chường và buồn tẻ dường nào? Đối với mỗi nhà thơ, mỗi cá tính riêng, mỗi giọng nói riêng, bạn đọc có thể yêu quý họ, “nâng niu” hay “trân trọng ngắm từ xa”, nhưng cũng có lúc họ sẽ “hạch sách”, “giày vò mỗi chữ”, điều quan trọng là nhà thơ vẫn giữ được giá trị cốt lõi của mình, không phải vì người khác có ý kiến trái chiều mà thay đổi quan điểm sống của mình. Chính những cách tiếp nhận khác nhau của bạn đọc ấy là ngọn lửa thử chất vàng mười của người nghệ sĩ, buộc họ phải sáng tạo không ngừng, trui rèn bản thân để đến gần hơn với độc giả. Thơ ca thế giới và Việt Nam đã ghi dấu bao giọng nói riêng của nhà thơ. Những tên tuổi đỉnh cao là những người luôn nỗ lực hết mình để khẳng định tiếng nói cá nhân trong sáng tạo. Nhà phê bình Hoài Thanh, Hoài Chân qua “Thi nhân Việt Nam” đã khẳng định: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thư rộng lớn như Thế Lữ. mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên.... và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”. Mỗi tác phẩm ra đời dù thu về những bình luận, ý kiến trái chiều nhưng ta vẫn không thể phủ nhận tài năng và cá tính độc đáo của mỗi nhà thơ. Họ chính là người nghệ sĩ thật thụ, là “nhà thơ lớn” được “nhân loại yêu bằng mọi cách”.

HUỲNH NGUYỄN BẢO TRÂN
LỚP 12CV TRƯỜNG THTH ĐHSP KHÓA 2015-2018