Hiển thị các bài đăng có nhãn Kawabata Yasunari. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kawabata Yasunari. Hiển thị tất cả bài đăng

Giới thiệu tác giả Kawabata Yasunari



KAWABATA YASUNARI
(1899-1972)
 
Sinh trưởng tại ngoại ô thành phố Osaka, đến tuổi mười sáu, Kawabata đã cho ra mắt tác phẩm đầu tay Nhật ký tuổi mười sáu (Juro Kusaino Nikki). Tác phẩm báo hiệu một tài năng mới mẻ đầy triển vọng của nước Nhật Bản. Năm 21 tuổi Kawabata cùng bạn bè sinh viên trường đại học Tổng hợp Tokyo sáng lập tạp chí Trào lưu mới (Sintio). Truyện ngắn đầu tay Lễ chiêu hồn của Kawabata đăng trên tạp chí này.
Nhiều người sành văn chương đã khen ngợi truyện ngắn của Kawabata khiến từ đó ông say mê văn chương thôi hẳn cái mộng làm hoạ sĩ. Ông tìm đọc tác phẩm của nhiều nhà văn nổi tiếng phương Tây và phương Đông. Tác phẩm của các nhà văn Marcel Prust, James Joyce, A. Shekhov, L. Tolstoi... đã gây nhiều hứng thú cho ông.
Năm 1923 ông được mời làm trong ban biên tập của tạp chí Văn nghệ xuân thu ( Bungei Shunziu) do nhà văn Kikuchia Kan sáng lập, đồng thời cùng nhà văn Yokomitsu thành lập tạp chí Văn nghệ thời đại ( Bungei Jidai ).
Kawabata chuyên tâm sáng tác văn học bên cạnh công việc biên tập viên. Năm 1948 ông được bầu làm chủ tịch Hội văn bút (Pen Club) Nhật bản. Lúc này các trào lưu văn học phương Tây với khuynh hướng hiện đại đua nhau tràn vào nước Nhật. Thoạt đầu ông cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng của các khuynh hướng đó. ka sáng tác theo chủ nghĩa duy cảm mới nhưng ngòi bút của ông không bị cám dỗ bởi vẻ hào nhoáng, tân kỳ, quái đản và phi lý của một số khuynh hướng “hiện đại” Tây Âu. Ông không xa rời tính độc lập dân tộc và hình thành bản lĩnh của mình, chủ trương giữ gìn di sản văn học và truyền thống mĩ học dân tộc. Ông nói: “bị lôi cuốn bởi những trào lưu hiện đại phương Tây đôi lúc tôi cũng thử làm theo. Nhưng tôi phải giữ cái gốc rễ phương Đông của mình và không bao giờ rời bỏ con đường ấy”.
Những tác phẩm ưu tú của các nhà văn cổ điển Nhật đã ảnh hưởng sâu sắc đến tài năng của Kawabata. Nhà văn cho biết rằng truyện Genji monogatari của nữ sĩ Murasaki Sibiku (978-1044) kiệt tác của nền văn chương cổ đã tác động sâu sắc đến khiếu thẩm mĩ và ngôn từ nghệ thuật của ông. Ông viết : “Trong các monogatari, Genzi là thiên truyện không ai có thể vượt qua được kể cả trước và sau đó. Không có tác phẩm nào thấm sâu vào lòng người đến thế, không có tác phẩm nào biết thể hiện vẻ đẹp u buồn của sự vật một cách sâu sắc và cảm động đến thế. Nhiều tác giả sau này cố bắt chước Genji nhưng vẫn thua xa. Không phải bàn cãi nữa, bút pháp Genji là vô song. Phong cảnh đất nước Nhật với sắc trời thay đổi bốn mùa xuân hạ thu đông, hình ảnh những người và phụ nữ Nhật sinh động mà rõ nét như bằng xương bằng thịt ”.
Genji không chỉ là được coi là “sách giáo khoa sáng tác” cho Kawabata mà còn nhiều nhà văn khác nữa.
Kawabata còn biết kết hợp những khái niệm mĩ học và triết học Nhật bản chặt chẽ và sinh động. Ông rút ra những nét đặc sắc của truyền thống văn hoá dân tộc với những khám phá sáng tạo của mình.
Đọc tiểu thuyết của Kawabata, giới phê bình đều cảm nhận thấy thi pháp tiểu thuyết Kawabata khá gần gũi với thi pháp thơ haiku. Chính Kawabata đã nói “tác phẩm của tôi thường được tả như là tác phẩm chân không”. Cái “chân không” đó là sự trống vắng thường xuất hiện trong haiku, trong tranh thuỷ mặc, trên sân khấu Noh, trong vườn đá tảng”.
Tiểu thuyết Vũ nữ Itzu (Itju no Odoriko)
 Năm 1925 Kawabata cho ra đời tiểu thuyết ngắn đầu tiên là Vũ nữ Itzu.
Đây là tác phẩm tiêu biểu theo “chủ nghĩa duy cảm mới”. Bằng cảm xúc chân thực, ông miêu tả tinh tế vẻ đẹp của cô vũ nữ ông gặp trên hòn đảo Itju. Vẻ đẹp của thiếu nữ tuổi mười bảy trẻ trung đầy sức sống đang hoà lẫn trong nắng xuân bên con suối trong ngần, thanh khiết. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt diệu khiến người lữ khách quyến luyến không muốn rời hòn đảo. Hình ảnh cô vũ nữ đọng mãi trong tâm trí ông. Về sau nhân vật này còn được tái hiện trong hai tiểu thuyết Hoa luân vũ khúc, Hồng đoàn ở Asakura.
Tiểu thuyết Xứ tuyết (Yuki guni)
Từ năm 1935 đến 1947, trong mười hai năm trời Kawabata miệt mài với Xứ tuyết. Tác phẩm được đăng tải nhiều kỳ trên Tạp chí Văn nghệ Xuân Thu.
Vẫn là chàng du khách xuất hiện trong Vũ nữ Itzu, lần này với tên là Shiamura.
Simamura đã đứng tuổi, có vợ con, sống ở thủ đô Tokyo, thỉnh thoảng một mình đi du lịch xứ tuyết miền Bắc, ngắm phong cảnh và tắm suối nước nóng. Ba lần trong ba mùa xuân thu đông khác nhau, anh đến vùng này và quen biết một cô du nữ tên là Komako. Komako chơi đàn samisen… Cô bước chân vào nghề geisha chuyên nghiệp để kiếm tiền trị bệnh lao cho Yukio, con trai của bà giáo dạy nhạc của cô. Lần thứ hai gặp lại, cô tỏ lòng yêu anh thực sự. Anh cũng say đắm không thể dời bỏ...Hai người tuy yêu nhau thắm thiết nhưng Komako sống trong nỗi khắc khoải, giày vò “chẳng biết anh ấy có thực sự yêu mình không ? ”. Còn anh ban đầu chỉ kết bạn giải khuây, sau bị tình yêu quyến rũ thực sự. Nhưng Simamura là người không có khả năng chia sẻ tình yêu lớn lao của Komako. Anh vốn là người nhẹ dạ và nông nổi, đam mê hết thứ này đến thứ khác.
Những ngày ở xứ tuyết, anh còn yêu thầm người con gái tên Yoko gặp trên một chuyến tàu đêm như một tình yêu lí tưởng chưa từng có. Yoko cũng là một geisha, cô cũng hết lòng chăm sóc Yukio con bà giáo. Yuko bị Komako ghen gét nhưng vẫn bình thản tận tụy với chàng trai xấu số cho đến khi anh chết… Lần sau gặp lại, Yoko xin anh mang theo cô về Tokyo, anh chần chừ… Gặp đám cháy,Yoko xông vào cứu người và hi sinh. Anh buồn chán bỏ lại Komako và xứ tuyết, trở về Tokyo trong thất vọng, hoang mang…
Trong Xứ Tuyết, vẻ đẹp của vũ đạo và âm nhạc dân tộc cũng được nhân vật Shimamura phóng đãng phiêu lưu phát hiện sau khi nghiên cứu nghệ thuật Phương Tây … Nhà văn còn miêu tả những vẻ đẹp quyến rũ của thiên nhiên xứ tuyết với ngòi bút tỉ mỉ, tinh tế. Nhà văn đặc biệt miêu tả quan hệ rất phức tạp giữa hai cô gái geisha, Yuko hấp dẫn và bí ẩn trong mắt anh và càng ngày càng lộ rõ phẩm chất thánh thiện của cô, qua lần gặp đầu tiên trên xe lửa và lần gặp cuối cùng trong quán rượu trước khi cô chết…Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Kawabata đã đạt đến mức độ tuyệt diệu…
Tiểu thuyết Ngàn cánh hạc (Sembazuru)
Tác phẩm được đăng báo đầu tiên năm 1949 và hai năm sau xuất bản thành sách. Câu chuyện bi thương xoay quanh những buổi trà đạo với bốn nhân vật chính.
Câu chuyện về trà đạo với những nghi thức khá cầu kì, những bình lọ chén tách cổ đan xen với những quan hệ chằng chịt của các nhân vật.
Cha của Kikuji trước kia đã trải qua những mối tình nhanh chóng với cô giáo trà đạo Kurimoto, rồi bà Ota. Trong một đêm Tokyo bị oanh tạc, ông cũng đã qua đêm với cô Fumiko con gái bà Ota dưới hầm trú ẩn.
Đến lượt mình, con ông là Kikuji cũng bị hút vào mối tình định mệnh với phu nhân Ota … rồi chàng cũng yêu Fumiko với một tình yêu trong sáng hơn...
Kikuji Mitani: chuyện kể từ cậu bé 11 tuổi đến nay là viên chức, độc thân, cha vừa mất được 4 năm.
Cha dan díu với Chikako, cô giáo dạy trà đạo, tặng cô cái tách trà sứ hiệu Oribe làm lưu niệm mối tình.
Mẹ buồn chán vì cha ngoại tình nhiều, bà đã chết trước ông.
Chikako Kurimoto bây giờ đang muốn quyến rũ Kikuji, nhưng lại tìm cách mối mai cô gái Yukiko Inamura cho anh.
Yukiko Inamura – thiếu nữ mang chiếc khăn màu hồng in ngàn cánh hạc trắng. Anh dửng dưng trước tình yêu của cô gái nhút nhát, rụt rè, lại khó chịu vì cô được người đàn bà đáng ghét Chikako có cái bớt xanh trên ngực giới thiệu…Trong khi chuyện trò, cô chỉ biết nói chuyện về người cha của anh mà anh không muốn nghe…
Bà Ota, chồng bà trước khi chết, giao lại bộ đồ sứ pha trà cho bà và cha Kikuji coi sóc.
Cha Kikuji lại dan díu với bà Ota. Cô Chikako ghen, từng rủ mẹ chàng cùng ghen.
Cô Fumiko, tâm trạng phức tạp. Đeo chiếc nhẫn cha Kikuji tặng một lần đưa tiễn ông về nhà sau trà đạo, trú đêm trong hầm tránh máy bay Mỹ, sáng mới về…
Fumiko biết mẹ có cảm tình với chàng, đến thuyết phục chàng đừng quan hệ với mẹ mình nữa. Nàng cũng nói thẳng với mẹ để can ngăn mẹ… Mẹ nàng đau khổ…Bà ngã bệnh, lần chót đến với chàng, xin ngủ lại. Hôm sau bà tự vẫn.
Sau tang mẹ, cô mời anh đến trà đạo, tặng anh chiếc bình shino 300 tuổi của mẹ vốn để đựng nước pha trà, nay cắm hoa. Anh mang về nhà. Cô lại cho anh một chiếc chén trà có vết son môi chùi không sạch của bà Ota.
Hai chiếc tách (chén) raku đen và đỏ (cha chàng và mẹ nàng từng uống chung) nay nàng mang ra để hai người con uống tiếp …
Chikako nói dối chàng rằng Fumiko đã lấy chồng. Chàng nghe Fumiko gọi điện thoại báo tin… Cô bán nhà đi chỗ khác sau khi gửi th cho chàng (tỏ tình)… Cô quay lại gặp chàng, lấy lại lá thư, xé bỏ. Hai người hút vào nhau như vô thức. Cô lại bỏ đi …
Một buổi uống trà, Fumiko mang ra cái chén karatsu kỉ vật của cha chàng. Đối ẩm như cha mẹ họ ngày xưa, giờ đến lượt họ. Nàng xin uống lần chót cái chén shino của mẹ … Nàng không kìm chế được tình yêu chàng…Họ ngã vào nhau… Sau đó nàng bảo “còn nhiều chén shino khác mới hơn mà !” rồi ném mạnh cái chén vào bể nước, chàng ngăn không kịp. Khuya, chàng ra vườn tìm, nhặt được 4 mảnh ghép lại, thiếu một mảnh nhỏ nơi miệng chén. Định đem chôn trong vừơn, sau lại gói giấy cất đi.…Nàng bỏ đi biệt tích. Kikuji tìm không được.
Rút cục, chỉ còn lại chàng và Chikako-người đàn bà chàng căm ghét nhưng không dứt ra được …
Cấu trúc
Truyện xoay quanh những buổi trà đạo tại túp lều trong khu vực đền Engakuji, tại nhà của họ.
Những chi tiết nổi bật:
1.           Ngàn cánh hạc trắng trên nền khăn hồng: Ý nghĩa tượng trưng?
2.           Vòm cây trong nắng chiều
3.           Chiếc bình shino và những chén trà bằng sứ gốm cổ.
4.           Thỏi sáp môi của mẹ nàng
5.           Ngôi sao kép (ý nói “hai mẹ con Ota và Fumiko” )
6.           Xây dựng những quan hệ từng đôi chằng chéo đấy ngụ ý, ẩn dụ…
Người đọc dễ có cảm giác về sự vô luân trong truyện này. Nhưng đặt nó vào hoàn cảnh tàn bạo của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II thì chuyện Kawabata kể cũng chẳng khác nhiều so với những chuyện mà văn sĩ Phương Tây viết thời gian này. Câu chuyện cũng không xa lạ với truyền thống văn học Nhật Bản nếu chúng ta chưa quên Truyện Genji của Murasaki cách đây 10 thế kỉ. Dù sao, Ngàn cánh hạc đã đem lại cho người đọc một thế giới tranh tối tranh sáng giữa cái đẹp và cái xấu. Một bên là cô giáo Kurimoto nhỏ nhen đến độ ác độc với biểu tượng cái bớt đen to tướng trên ngực. Bên kia là phu nhân Ota đẹp đẽ, nồng nàn và giàu đức hi sinh, bà đã uống thuốc ngủ tự tử, vì mối tình tuyệt vọng hay vì hạnh phúc của đứa con gái ?
Đoạn kết – Trong đau khổ và tuyệt vọng, cô gái Fumico đập vỡ chén trà Shino có vết son môi của mẹ để lại. Chàng Kikuji, người yêu của cô, thu nhặt những mảnh vỡ cất đi vì đó là kỉ niệm mối tình của anh với mẹ nàng, cũng là kỉ niệm về người cha của anh    Cha anh đã yêu mẹ nàng hồi xưa. Sau khi cha mất đi, anh bỗng yêu mẹ nàng không sao cưỡng được. Anh luôn luôn uống chén trà của người yêu cũ để lại. Nàng ghen ngay cả với người mẹ đã qua đời, quyết đập bỏ cái tách trà.
Đó là mối tình trầm luân, chằng chéo phản ánh sự giằng co giữa cái đẹp truyền thống và những cái mới trong tình yêu và trà đạo. Dù sao cái đẹp truyền thống đang mất dần. Tiểu thuyết là một thế giới đa tình và đa đoan. Tính dục được miêu tả không phải như sự hoan lạc thấp hèn mà như một đam mê và khổ nạn của con người. Khó phân biệt đó là cách nhìn của phân tâm học Freud hay là triết lý nhân sinh Phật giáo đại thừa.
Tiểu thuyết chủ yếu bàn về sự lựa chọn cái đẹp chứ không chỉ là “truyện tình”
Tiểu thuyết Cố đô ( Kyoto / Jing du )
Đăng lần đầu trên tờ nhật báo Asahi Shimbun năm 1961, in sách năm 1962. Kawabata bày tỏ nỗi lo âu về số phận của cái đẹp trước sức đe doạ của nền kinh tế hàng hoá với việc sản xuất hàng loạt và thói tiêu dùng trưởng giả, thẩm mĩ thấp kém của lớp thị dân hiện đại. Câu chuyện xoay quanh cửa hàng bán trang phục kimono của gia đình ông Takichiro:
Nàng Chieko – đứa con bị bỏ rơi, được ông bà Takichiro chủ cửa hàng kimono nuôi dưỡng như con. Nàng trở nên kiều diễm thông minh nhạy cảm như một tiểu thư quí tộc. Nhân dịp lễ hội, nàng nhận lại được cô em gái song sinh Naeko nay đang làm công cho một xưởng mộc ở một vùng núi xa. Nàng muốn chị em đoàn tụ ở ngôi nhà ông bà Tachikiro. Ông Tachikiro cưng chiều Chieko đến mức ông lên một ni viện (gồm toàn nữ tu) nửa tháng trời để chép lại những hoa văn truyền thống Nhật bản, kết hợp với hội hoạ của Paul Klee, Matisse Chagall (các hoạ sĩ đương đại Tây Âu) rồi vẽ kiểu một chiếc đai lưng cho Chieko. Đem về ông thuê anh thợ dệt tài năng trẻ Hideo dệt cho nàng một chiếc. Hideo thầm yêu Chieko nhưng nghĩ mình không tương xứng với cô gái quí tộc thành thị, anh quay ra yêu Naeko vẻ ngoài giống chị nhưng tính nết trong sáng giản dị giàu đức vị tha (vẫn là tình yêu cô chị nhưng tạm bằng lòng với cô em). Anh khen bản vẽ của ông Tachikiro đẹp nhưng chê thiếu sự hài hòa và hơi ấm của tâm hồn, lại chứa đựng vẻ bệnh hoạn và bất ổn. Tachikiro tức giận ném bản thảo xuống sông... Hideo mang hết tình cảm say đắm nàng ra dệt chiếc đai lưng tuyệt tác... Nhưng cô em Naeko, sau một đêm tâm sự chị em, cô nghĩ không thể sống với chị trong cảnh giàu sang và xa lạ. Chị em bùi ngùi chia tay nhau vào buổi sớm tuyết bắt đầu tan trên cố đô Kyoto … Cuối cùng,Tachikiro phải bán nhà vì công ty hàng dệt tay ế ẩm do bị nền cơ khí đại công nghiệp dệt bằng máy chèn ép. Bên cạnh đó, những vẻ đẹp của thiên nhiên cũng đang chết dần, Kyoto đang có nguy cơ trở thành một khu công nghiệp, một khách sạn khổng lồ với ô nhiễm khói bụi và lạnh lùng của bê tông sắt thép.
Tương lai thuộc về những người như Hideo và Chieko phục hưng để phục hồi kimono…
Tiểu thuyết Người đẹp say ngủ
Kawabata viết năm 1969. Nhà văn G.G, Marquez nồng nhiệt đánh giá cao và coi truyện ngắn này là kiệt tác của văn học thế giới, ông nói rằng chỉ khi đọc truyện này ông mới chú ý đến nền văn học Nhật bản.
Đô thị Nhật có một số lầu xanh độc đáo, kín đáo. Những thiếu nữ trẻ đẹp, khỏa thân được uống thuốc ngủ trước khi khách vào phòng. Khách thường là những ông già tư sản có thể trả những khoản tiền lớn (còn giữ tiền để làm gì nữa !) chỉ để ngắm nhìn và âu yếm suốt đêm người con gái trẻ dưới hai mươi tuổi trên cùng một chiếc giường. Họ không đánh thức thiếu nữ dậy, không thử làm điều gì đó phá trinh tiết cô gái. Họ chỉ muốn ngắm người đẹp ngủ …với tâm trạng tâm thế khá phức tạp. Ông lão Eguchi đã 67 tuổi xuân, một lần tìm đến vì tò mò, trong căn phòng ánh sáng mờ ảo hắt ra từ tấm màn nhung đỏ thắm khiến thiếu nữ trở nên huyền ảo như trong mộng. Trái tim ông tê dại đi một chút trước người đẹp như đã sẵn sàng dâng hiến. Ông hôn lén nàng. Nàng không tránh mà cũng không cảm nhận, ông cảm thấy một khoảng không trống rỗng và tăm tối xâm chiếm đầu óc mình...
Đêm thứ ba, ông lão Eguchi nằm giữa hai cô gái. Một cô hoang dã, ngăm đen, da cứng dày, mồ hôi nhớp nháp và cô kia trắng nõn mềm mại thơm tho. Ông bị thu hút về phía cô-hoang-dã, ông cảm thấy nguồn sinh khí huyền diệu, hiện thân của sự sống. Ông thầm kêu lên «người đàn bà cuối cùng của đời ta! » và ông liên tưởng đến người đàn bà đầu tiên. Bầu vú thanh xuân trong tay ông báo hiệu một viễn cảnh: khi ông chết đi, dòng đời vẫn tiếp tục chảy trong một mạch máu khác. Nhan sắc của thiếu nữ những đêm trước càng tô đậm thêm nỗi buồn khổ lạnh lẽo của tuổi già. Cái đẹp vô thường gây nỗi cô đơn và niềm bi cảm khi ông nằm giữa hai người đẹp. Lão Eguchi chợt tỉnh giữa đêm, cô hoang dã đã chết (có lẽ dùng thuốc quá liều), người ta kéo lê cô đi… (Thế là hai người đã chết ở đây một thiếu nữ và một ông già tư sản tên Phukura)… Ông vẫn có thể ở lại trên giường với cô kia. Thân thể cô bỗng nhiên đẹp một cách rực rỡ khiến ông hoa cả mắt … nhưng lại làm ông tỉnh hẳn ra khỏi cơn mộng. Ông già Eguchi uống thêm thuốc ngủ mà vẫn không sao ngủ được…
«Người đẹp say ngủ» cho ta thấy quan niệm sống mơ hồ lẫn lộn trong cảm hứng sa đọa. Tác phẩm cho thấy sự mất phương hướng trong lối sống. Nhà văn cũng tổ cáo tội lỗi của những kẻ buôn người, nạn nhân thê thảm vẫn là phụ nữ.Nhà văn nêu lên quan niệm rằng cái đẹp không chỉ nằm trong xác thịt. Nếu khách chỉ biết đến nhục dục thì cô gái kia chẳng khác gì “người đẹp say ngủ” vậy thôi.
Truyện ngắn “THỦY NGUYỆT” (Trăng trong nước)
Nghệ thuật của Kawabata có thể so sánh với chiếc gương phản chiếu cái đẹp, nói cách khác, đặc điểm nghệ thuật của ông là “thẩm mĩ của chiếc gương soi”.
Hình ảnh cái gương xuất hiện thường xuyên trong văn của Kawabata, đặc biệt trong Xứ tuyếtThuỷ nguyệt.
Trong Xứ tuyết, hình ảnh chiếc gương soi xuất hiện nhiều lần, từ con mắt thiếu nữ đến núi đồi, sương tuyết, mặt trời đến cái cửa kính toa tàu –nơi chàng Shimamura đang ngồi. Đang mơ mộng, chàng chợt thấy trong gương một con mắt “Con mắt người con gái hiện lên chập chờn trước mặt làm chàng suýt kêu lên vì kinh ngạc, đó chỉ là người con gái ngồi phía bên kia in hình qua... Hơi nước đọng làm tấm gương mờ đục cho đến khi chàng vạch một lằn ngang. Trong chiều sâu của tấm gương, phong cảnh buổi tối đằng xa lần lượt kéo qua như một đáy gương di động, một vũ trụ kì ảo và duy nhất... Còn đây là hình ảnh Komako trong gương dưới mắt chàng Shimamura“ Màu trắng mà chàng đã thấy trong gương chính là màu tuyết, và lơ lửng ở giữa là màu đỏ rực của đôi má người đàn bà...
Trong truyện ngắn Thuỷ nguyệt, nhân vật nữ Kyoko khéo nghĩ ra cách dùng gương soi giúp chồng nằm trên giường bệnh có thể ngắm nàng và hoà mình vào thế giới bên ngoài. Nhờ đó chính nàng cũng khám phá ra một thế giới mới trong gương soi :
Kyoko vô cùng kinh ngạc về cái phong phú của thế giới trong gương... ”
-     Bầu trời ánh bạc trong gương, Kyoko nói. Rồi nhìn vọng qua cửa sổ nàng tiếp – mà bầu trời thật thì xam xám.
-     Bầu trời trong gương thì thiếu hẳn màu xám chì và vẻ nặng nề bên ngoài. Trời trong gương sáng chói...
-     - Đúng rồi, trời xám đục. Nhưng mà màu trời không nhất thiết phải giống nhau qua mắt của chó, của chim hay của người. Ta không bao giờ nhìn đúng màu thật cả.
-      Có phải những gì ta nhìn thấy trong gương là do mắt của gương không anh ?
Kyoko muốn gọi tấm gương là con mắt tình yêu của họ. Cây lá trong gương tươi xanh hơn cây lá thật và những cành huệ trắng trong hơn. ”
Kyoko cùng chồng thường nhìn ngắm ánh trăng trong gương, cái ánh trăng soi bóng trong vũng nước mưa ở dưới nhà. Cái gương soi cái bóng của trăng chứ không phải chính ánh trăng, bóng của bóng ở trong gương. Nhà văn muốn bàn về cái phù ảo của thế giới qua những cái bóng trong nước và bóng trong gương vậy.
Con người không thể tự nhìn thấy được gương mặt của mình... Tại sao thượng đế tạo nên gương mặt của con người bằng cách không cho họ tự nhìn thấy mặt mình ?
Hai đoạn trích trên thể hiện khá rõ tư tưởng nghệ thuật của Kawabata, rằng thế giới trong gương hay trong nghệ thuật tuy ảo nhưng lại rất thực và rất đẹp, rằng con người không thể nhìn thấy mặt mình nếu thiếu những chiếc gương soi. Và gương không chỉ là gương mà còn là trái tim, là tình yêu nữa. Truyện ngắn Thuỷ nguyệt của Kawabata bên cạnh chủ đề chính của nó đã mang sứ mệnh biểu tượng tuyên ngôn cho thi pháp Kawabata.
Con người và thiên nhiên trong Kawabata làm chiếc gương soi chiếu lẫn cho nhau
Văn chương Kawabata là cuộc hành hương đi tìm cái đẹp và sự cảnh báo về nguy cơ diệt vong của nó. Nhưng đó là những vẻ đẹp hiện đại nảy sinh từ truyền thống dân tộc. Do đó nhà văn không phải là người bảo thủ hoài cổ. Nghệ thuật văn chương của ông kết hợp cả phương Đông và phương Tây. Trong buổi lễ nhận giải Nobel, ông còn tranh thủ đọc bài luận văn bằng tiếng Anh : Japan, the Beautiful and Myself  trong đó ông thuyết minh về cái đẹp sâu lắng trong văn hóa Nhật bản, tâm trạng người Nhật và những nỗi ưu tư của người nghệ sĩ hiện đại trong sáng tác.

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT KAORU (VŨ NỮ IZU - KAWABATA YASUNARI)



PHÂN TÍCH NHÂN VẬT KAORU

Dàn ý
Dẫn chứng
Phân tích
I.                   Số phận


a)     Xuất thân
-         Sinh ra trong gia đình làm nghề hát rong di chuyển từ nơi này đến nơi khác.
-         Biệt tài chơi trống, khi không chơi trống thì múa.
“Vào mùa xuân họ rời đảo đi lang thang khắp bán đảo…khi trời trở lạnh, họ từ Shimada ở phía Nam sẽ đi thuyền về đảo nhà”

Bơi qua sông trong mùa  Đông

Cuộc gặp nhiều bất trắc è Chị gái của Kaoru đã sẩy thai trong chuyến đi è Họ muốn trở về Shimoda, quê hương, để kỉ niệm 49 ngày mất của đứa trẻ.
-         Cuộc sống bấp bênh, bất định, cơ cực với những đứa trẻ như Kaoru.
-          Cuộc sống nhiều rủi ro, mất mát với những nỗi đau tinh thần và thể chất.
b)    Đẳng cấp
-         Nghề hát rong bị xem là nghề đẳng cấp thấp è Bị coi thường, khinh miệt.
-         Số phận chịu nhiều thiệt thòi bởi quan niệm “Trọng nam khinh nữ” của xã hội đương thời.
Đám người ấy có trời mới biết nơi họ sẽ nghỉ lại. Nếu gặp được vài người trả tiền thì đấy sẽ là nơi nghỉ…cậu nghĩ liệu họ có biết trước được không?” – Lời bà chủ quán trà.


-         “Đám người ấy” – cách gọi xưng hô, miệt thị.
-         “Nếu được trả tiền thì đấy sẽ là nơi nghỉ” è Hoàn cảnh sống bất định, đáng thương, phụ thuộc nhiều vào kẻ khác.
“Chỉ có phí thức ăn khi mời những người như thế” – Bà chủ nhà hàng.
“thỉnh thoảng đi qua một con đường chạy vào làng chúng tôi nhìn thấy tấm bảng : “cẩm lũ ăn mày, biểu diễn rong”” - Ở Oshima

-         Bị người đời xem thường, khinh rẻ rõ ràng , xét họ ngang hàng với tầng lớp thấp nhất xã hội “ăn mày” (mặc dù học có lao động) è Tình cảnh đáng thương, tội nghiệp
“Chúng tôi nghĩ cậu sẽ không uống nước nếu cánh phụ nữ chúng tôi  đã khuấy động dòng nước” và “ chắc ông không ngại khi cánh đàn bà chúng tôi đã động đũa vào” – Lời những người đàn bà lớn tuổi.

-         Những lời nói thể hiện sự yếm, thế, khiêm nhường, tự ti tội nghiệp è Hệ tư tưởng trọng nam khinh nữ đã bắt sâu vào trong xã hội, vào tâm thức của con người, thậm chí vào bản thân người phụ nữ è Thái độ người phụ nữ trước số phận của mình là một sự cam chịu đến tội nghiệp.

II.                Những vẻ đẹp đối lập 


a)     Vẻ chững chạc, người lớn của một cô Geisha học việc trong sự kèm cặp gắt gao của bà mẹ.


-         Kaoru là một du nghệ nhân.
-         Kaoru đang học việc với mẹ để trở thành Geisha.

Gei” là nghệ, “Sha” là giả. Vậy Geisha là một nghệ giả, tức là người đàn bà hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật. Việc nhìn nhận về người phụ nữ làm nghề Geisha, nhà nghiên cứu người Nga C.t Vostokov đã nhận xét: “ các nàng geisha là những người có học vấn nhất ở Nhật Bản…sắc xảo, rất am hiểu văn học, vui vẻ, có tài đối đáp, họ bộc lộ trước các bạn toàn bộ sức quyến rũ của mình. Với một nghệ thuật cổ điển, các người Geisha hát cho bạn nghe, ngâm những bài thơ hay tuyệt và đọc các đoạn trích từ những vở kịch trứ danh. Lúc nào cũng vui vẻ một cách tự nhiên, sắc xảo…không để mất phẩm giá phụ nữ của mình(…). Nói cho đúng hơn, Geisha là những nghệ sĩ”
-         Sự đào tạo, rèn luyện Kaoru từ một du nghệ nhân, một nghề bị xã hội khinh miệt trở thành Geisha – một nghề được xem trọng èTấm lòng của người mẹ mong muốn vào sự đổi đời cho con.
-         Để trở thành một Geisha, thì ngay từ khi 13 tuổi Kaoru đã phải chịu sự rèn luyện hà khắc với những quy củ nghiêm ngặt từ ngoại hình, dáng vẻ, nghệ thuật ứng xử, tài nghệ è Dần từ bỏ vẻ hồn nhiên ngây thơ đang có để khoác lên mình lớp vỏ bọc già dẵn, nghiêm túc, thanh tịnh của một Geisha.
Ngoại hình của cô Geisha học việc Kaoru:

+Tóc, gương mặt, cách trang điểm
“ Tóc nàng được chải cao theo kiểu cũ mà tôi không biết, khuôn mặt hình ô van nghiêm nghị của nàng làm nhỏ lại dưới mái tóc. Nhưng khuôn mặt và mái tóc lại rất hợp nhau, khá giống trong tranh, bức tranh vẽ các thiếu nữ xinh xắn thời xưa”.

“Vết son phấn trang điểm đậm từ tối qua, còn vương lại, màu hồng trên môi và các chấm hồng quanh đuôi mắt





Chịu sự dạy dỗ gắt gao:

-         Hát cao giọng một chút cũng bị mắng.
-         Dáng chơi cờ phải lưng thẳng, nghiêm túc.
-         Dág đi điệu bộ cũng phải nghiêm trang, và luôn phải nhắc nhớ để không quên các nguyên tắc, để không bị mắng.
. Khi nào giọng nàng hơi cao hơn một chút, người đàn bà liền mắng: “Mẹ đã nhắc con phải hạ giọng xuống bao nhiêu lâu rồi”. Lời của người đàn bà giành cho Kaoru đủ cho ta thấu sự gan khổ trong quá trình luyện tập, phải tập đi tập lại nhiều lần mới có thể đạt được kết quả tốt.



-         Cái sự già dặn này cũng ẩn giấu phần nào đó cái ngây thơ è Kaoru dường như không nhận thức được tầm quan trọng của việc tở thành một Geisha è Tất cả những gì cô làm là nghe lời mẹ, tuân thủ các luật lệ để không bị mắng è Vẻ 16, 17 tuổi của một cô Geisha học việc chỉ là vẻ bề ngoài, khuất lấp bên trong là một tân hồn hồn nhiên, trong sáng, tinh khôi.
b)    Bản chất hồn nhiên trong sáng của một cô bé 13 tuổi


-         Trong quá trình học việc vẫn còn những lúng túng, lóng ngóng của tuổi trẻ.
“Cô vũ nữ bưng trà từ tầng dưới lên. Khi nàng đến chỗ tôi, tách trà kêu leng keng trên đĩa. Nàng cố đặt tách trà xuống gọn ghẽ bằng nỗ lực lớn của bản thân, nhưng lại làm tách trà nghiêng đổ. Tôi đã không chuẩn bị tâm thế trước sự lúng túng tột độ ấy”  - “Lo lắng lau chỗ trà đổ”

-         Sự phát triển của một cô bé vị thành niên các hoạt động tâm lý với phát triển không đồng đều của các bộ phận trên cơ thể è sự vụng về, lóng ngóng, không thể tránh khỏi è Cái lúng túng, lo sợ mỗi khi làm sai sót, đổ bể chính là một biểu hiện đáng yêu của sự hồn nhiên trong tâm hồn.
-         Chi tiết nhân vật chính vô tình nhìn thấy Kaoru khỏa thân
Một thân hình bé nhỏ chạy ào ra dưới ánh nắng, dừng lại một lát trên mép ván nhảy, gọi to điều gì đó với chúng tôi, hai tay đưa lên như thể chuẩn bị nhảy lộn đầu xuống nước. Đấy là cô vũ nữ, cơ thể nàng trần truồng, thậm chí không quấn cả khăn tắm. Tôi nhìn nàng, nhìn đôi chân non trẻ, nhìn thân hình trắng muốt như tạc và bỗng nhiên như thể có một suối nước tinh khiết rửa sạch tim tôi.

Tôi cười vang, hạnh phúc. Nàng hãy còn bé bỏng, chỉ là một cô bé, trẻ con thì mới có thể trần truồng chạy ra ngoài nắng và nhón chân đứng đó, thoải mái nhìn bạn bè.


-         Vẻ đẹp hình thể chứa đựng sức sống của tuổi trẻ, “đôi chân non trẻ, thân hình trắng muốt”;được soi chiếu dưới ánh nắng mặt trời è Càng tinh khôi, thanh khiết.
-         Vẻ đẹp của Kaoru thường được gắn với ánh nắng: Dáng điệu nằm ngả người ấy như thể tuôn tràn về phía tôi cả làn sóng sắc màu và ánh sáng. Như thể bị lóa bởi ánh sáng ban mai, nàng lật người, trườn ra khỏi đệm, hai bàn tay vẫn che mặt è Nghệ thuật dặc tả chi tiết, với chi tiết đắt giá đã khắc họa được vẻ đẹp tinh khôi, trong sáng của Kaoru,
-         Điệu bộ, dáng vẻ “Nhảy lộn đầu xuống nước”, “cười vang” è Cái sự ngây thơ, hồn nhiên.
-         Vẻ đẹp hồn nhiên có tác dụng cứu rỗi linh hồn  è nhân vật chính cảm thấy “như thể có một suối nước tinh khiết rửa sạch tim tôi”; cười vang, hạnh phúc. Tại sao lại cứu rỗi è Diễn biến 3 lần gặp Kaoru: đầu tiên là ở quán trà, nghe lời giới thiệu của bà chủ quán trà đã nảy sinh dục vọng và muốn ngủ với Kaoru; lần thứ 2, khi phát hiện ra Kaoru còn trẻ ở quán trọ; phân vân; lần thứ 3 này, khi vô tình bắt gặp cơ thể của Kaoru trong một tình huống không ngờ tới, được đốn ngộ vẻ đẹp của sự tinh khôi, thanh khiết è NIềm vui ập đến như một sự cứu rỗi linh hồn, giúp con người vượt qua dụng vọng bản năng.
-         Bổ sung thêm ý phần kết thúc.
-         So sánh với  “Người đẹp say ngủ”.
-         Chi tiết Kaoru nhờ nhân vật tôi đọc sách cho nghe:
Xấu hổ về việc trực tiếp nhờ tôi, nàng nhiều lần nhắc đi nhắc lại giá mà có ai đó vui lòng nhận lời đề nghị mà đọc tiếp thì thì thú biết bao. Tôi hạnh phúc cầm quyển sách, niềm hi vọng thầm kín trỗi dậy trong tôi. Tôi đã không thất vọng. Đầu nàng gần như chạm vai tôi khi tôi bắt đầu đọc. Nàng ngước nhìn tôi với dáng vẻ háo hức nghiêm trang, mắt nàng rực sáng và không chớp. Đó dường như là tính cách nàng khi ai đó đọc cho nàng nghe.

Đôi mắt to của nàng đen nháy, là nét ấn tượng nhất từ nàng. Nếp mi mắt thì không bút nào tả xiết. Và tiếng cười của nàng - tiếng cười của một bông hoa - phong thái nàng dường như luôn thư thái mỗi khi tôi hình dung về nàng.
-         Cái ánh mắt to háo hức, cái nụ cười hồn nhiên è Dáng vẻ của một đứa trẻ say mê thưởng thức câu chuyện mà người lớn kể cho nó.
-         Thủ pháp nghệ thuật: miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, và luôn gắn với các hình tượng tràn đầy sức sống như là ánh sáng, nụ hoa.
-         Dáng vẻ khép nép, gần như tựa đầu vào vai nhân vật tôi è Dáng vẻ của cái đẹp mỏng manh, yếu đuối khơi gợi bản năng chê chở è Gợi nên cảm giác yên bình, thư thái nơi nhân vật tôi è Một mặt khác của vẻ đẹp cứu rỗi, mang lại sự bình yên cho con người.
-         Chi tiết Kaoru ngước mặt lên bầu trời quang đãng
Cô vũ nữ bé bỏng xoay đôi dép để tôi có thể xỏ thẳng vào mà không cần phải xoay chân. Nàng tựa vào ngưỡng cửa và ngước nhìn lên bầu trời quang đãng.

- Mặt trăng đã lên. Ngày mai chúng ta sẽ ở Shimoda. Em yêu Shimoda. Chúng ta sẽ cầu kinh cho đứa bé, và Mẹ sẽ mua cho em chiếc lược như đã hứa, rồi còn mọi công việc chúng ta có thể làm sau đó. Ông có đưa em đi xem phim không?
-         Một lần nữa Kaoru lại được soi chiếu dưới ánh sáng của mặt trăng, mặc dù tác giả không miêu tả. Dáng vẻ ngây thơ hướng lên bầu trời, hướng về mặt trăng tạo cảm giác về cái đẹp tinh khôi, trong sáng.
-         Nội dung lời nói: Có cái nhìn hướng về tương lai, hướng đến những điều tốt đẹp. Đó là chỉ những cái mơ ước nhỏ nhoi như cái lược, lời hứa được dẫn đi xem phim è Cô dành cho nó một thứ niềm tin tuyệt đối, chờ đợi nó bằng cả trái tim è Vẻ ngây thơ của một đứa trẻ ánh lên cái đẹp đến nao lòng.
III.             Vẻ đẹp đó đã để trong lòng người lữ khách những cảm xúc không quên.


-         Thấy “dễ thương”
Chi tiết Kaoru chơi đùa với con chó, dùng lược chải lông cho nó (chiếc lược cô cài trên đầu mà nhân vật tôi từng có ý định xin lại làm kỉ niệm è việc cô dùng nó chải lông cho con chó làm anh bối rối)

-         Thấy bình yên, niềm vui
-         Đoạn vô tình gặp khỏa thân
-         Đoạn đọc sách

-         Nỗi buồn, sự cô đơn, sự tiếc nuối sâu sắc è Làm thành những giọt nước mắt không cần che giấu của một người đàn ông?
-         Đêm khi chia tay, nghe tiếng trông đã cảm thấy “khóc vì một lí do không chính đáng”
-         Sau khi chia tay, khi chiếc tàu trở nhân vật tôi đã rời bế:

Tôi khóc lặng lẽ và khi má tôi bắt đầu thấy lạnh, tôi lật ngược chiếc túi.

Khi cậu bé hành khách kế bên hỏi thăm:
- Anh có chuyện buồn à? - Cậu ta hỏi sau một lúc.

- Không, anh chỉ vừa mới tạm biệt một người.

Tôi thấy không cần phải giấu giếm sự thật và tôi hoàn toàn không hề xấu hổ vì những giọt nước mắt.

Tâm trạng tôi như thể đang thiu thiu ngủ trong sự thanh thản tuyệt đối.

Trong bóng tối, được sưởi ấm bởi cậu bé nằm bên cạnh, tôi thỏa thuê khóc. Như thể đầu tôi đã hòa thành dòng nước tinh khiết. Nó đang thanh thản rời đi, từng giọt một. Chẳng mấy chốc, sẽ chẳng còn lại gì nữa.



-         Thủ pháp gương soi è Vẻ đẹp của Kaoru hiện  ra khúc xạ qua lăng kính tâm trạng của nhân vật tôi.
-         Chính vẻ đẹp đó đã khiến nhân vật tôi có những tâm trạng man mác, bâng khuâng khi chia tay.
-         Đỉnh điểm là những giọt nước mắt “khóc vì lí do không chính đáng”, “khóc lặng lẽ”, Những giọt nước mắt “không cần giấu giếm và không hề xấu hổ”, “khóc thỏa thê” è Sự tăng tiến trong tâm trạng và cũng là lúc người đàn ông trong nhân vật tôi thừa nhận và vỡ òa với sự yếu đuối trong tâm hồn mình è Giọt nước mắt chính là sự giải thoát, giúp con người vượt qua những kìm nén đời thường để được khóc, được sống thật với cảm xúc của mình.
-         Hình ảnh “dòng nước tinh khiết” xuất hiện ở đầu cuộc cứu rỗi và kết thúc tác phẩm è Nó là cảm xúc mạnh mẽ đầu tiên mà Kaoru để lại trong lòng nhân vật tôi, ngay cả khi chia xa, thì nó vẫn tồn tại.
-         Tuy nhiên nó “thanh thản rời đi, từng giọt một. Chẳng mấy chốc sẽ chẳng còn lại gì” è Đang dần dần vơi đi cùng với cuộc chia ly è Tạo dư vị bâng khuâng man mác nhè nhẹ ở cuối tác phẩm, không quá day dứt, không quá bi lụy, không xoáy sâu, nhưng gờn gợn như một làn sương è Cảm thức Awarê của người Nhật.
-         Tổng kết:

+ Nhân vật Kawaru là tiêu biểu cho nhân vật nữ của Kawabata: hội tụ cả 3 vẻ đẹp: vẻ đẹp thanh cao, vẻ đẹp hình thể, vẻ đẹp cứu rỗi linh hồn.
+ Nhân vật được khắc họa sâu sắc và sinh động bằng nghệ thuật đặc tả chi tiết, thủ pháp gương soi…
+ Nghệ thuật tương phản đối lập xây dựng những đối cực (vẻ bên ngoài già dặn – tâm hồn trong sáng ngây thơ) tưởng như mâu thuẫn mà thống nhất đã làm nên sự phức tạp cũng như nét quyến rũ của nhân vật.
+ Đại diện cho tâm hồn thuần hậu của người Nhật: yêu thiên nhiên, chịu thương  chịu khó, giàu đức hy sinh, kiên trì nhẫn nại, yêu cái đẹp.


SO SÁNH VẺ ĐẸP THANH CAO CỨU RỖI LINH HỒN CỦA KAORU VÀ
 NHỮNG NGƯỜI ĐẸP TRONG NGÔI NHÀ NGƯỜI ĐẸP SAY NGỦ.

Người đẹp say ngủ
Kaoru
Cơ thể khỏa thân, biểu hiện của vẻ đẹp tuổi trẻ chính là cái tiền đề cho sự cứu rỗi linh hồn.
Những ông già ở bên kia con dốc cuộc đời nằm bên những người đẹp say ngủ khỏa thân
Nhân vật tôi vô tình nhìn thấy Kaoru tắm trong trạng thái khỏa thân.
Đều làm cho những người lữ khách  được khóc để giải thoát
Nhưng trong đám lão khách kín đáo lui tới “Ngôi nhà người đẹp ngủ mê” này, Eguchi tin chắc rằng có những lão không những buồn rầu nhìn lại thời trẻ nay đã xa xưa mà còn tìm cách lãng quên những điều xấu xa , những việc độc ác đã làm dọc theo chiều dài cuộc đời họ.[…] Trong đám họ chắc kẻ đã thành công bằng những hành vi sai trái và giữ được các thành quả bằng cách làm đi, làm lại các điều sai trái đó. Họ khó tìm được sự bình an, thanh thản với chứng minh và trở thành những kẻ thua cuộc, khiếp sợ. Khi nằm ôm da thịt trần truồng, tươi mát của các cô gái bị thiếp cho ngủ, tự thâm tâm có cái gì còn hơn nỗi sợ cái chết cận kề hay niềm tiếc nuối tuổi trẻ đã qua lâu rồi. Có thể đó là những nỗi hỗi hận về những điều tồi tệ đã làm hay những bất hạnh gia đình thường xả ra nơi những kẻ thành công trong đời. […]Ôm có gái trần truồng trong tay, họ khóc thầm với những giọt nước mắt lạnh lẽo, hay than vãn kêu la to tiếng, nhưng nàng đâu hay biết gì đâu có mở mắt. Các lão già sẽ không cảm thấy tủi nhục, không bị tổn thương niềm kiêu hãnh của mình. HỌ tha hồ để mình hối cải, để mình rên rỉ.”
Và như thế đấy: Sự hân hoan hạnh phúc khiến người ta hồi tưởng về những quá khứ đã qua, thậm chí cả những tội lỗi, và nỗi đau tột cùng khiến người ta khóc. Đến cuối cuộc đời mình, những lão khách nơi đây đã có cái may mắn được khóc vì những nỗi đau và những dằn vặt tội lỗi mà mình đã phải kìm nén cả đời. Nước mắt cuốn trôi tất cả. Nước mắt rửa sạch tất cả. Và những người đẹp  nằm đấy, như một minh chứng (dù là vô thức) cho sự ăn năn của những ông già, và sự im lặng có thể hiểu là một dấu hiệu của sự tha thứ. Câm lặng, khoan dung, không phán xét. Chỉ đơn giản là sự im lặng. Và đó cũng là dấu hiệu cho sự chuộc tội, khi các ông lão có thể tha thứ cho chính mình. Trong mối quan hệ này bỗng nhiên các cô gái nơi căn nhà người đẹp ngủ mê vụt lên trở thành những vị Bồ tát cứu vớt con người khỏi những nỗi khổ của cuộc đời họ, những vị bồ tát bao dung, tuyệt đẹp, im lặng và bí ẩn. Đến đây, ta như hiểu rõ hơn cái chữ “phạm tội” của bà chủ quán lúc trước. Đúng là một tội lỗi, nếu phá vỡ mối quan hệ thanh cao và thiêng liêng này bằng cách phá vỡ hết các điều luật của ngôi nhà, điều này làm trần tục hóa vẻ đẹp thanh tao của những người đẹp, và làm nhuốm bẩn “nghi thức rửa tội”.

-         Đỉnh điểm là những giọt nước mắt “khóc vì lí do không chính đáng”, “khóc lặng lẽ”, Những giọt nước mắt “không cần giấu giếm và không hề xấu hổ”, “khóc thỏa thê” è Sự tăng tiến trong tâm trạng và cũng là lúc người đàn ông trong nhân vật tôi thừa nhận và vỡ òa với sự yếu đuối trong tâm hồn mình è Giọt nước mắt chính là sự giải thoát, giúp con người vượt qua những kìm nén đời thường để được khóc, được sống thật với cảm xúc của mình.

Mang đến sự thư thái, bình yên trong tâm hồn, giúp họ thoát khỏi dục vọng bản năng.
-         Ở đêm thứ hai, sự kiện ngăn ông lại chính là việc ông phát hiện ra cô gái vẫn còn trinh. Sự bất ngờ sửng sốt ấy làm Eguchi bàng hoàng. Đó cũng là lúc ông nhận ra nỗi đau của những ông già đã từng đến đây sâu thẳm đến như thế nào. Nhưng chi tiết quan trọng nhất đó là tiếng thét gọi mẹ - trong mơ – của cô gái:
“Ông già Eguchi siết chặt người nàng hơn trong vòng tay như thể muốn đưa nàng ra khỏi cơn mơ. Nỗi đau chứa đựng trong tiếng gọi mẹ của nàng như lưỡi dao đâm thẳng vào người ông…”
Dường như cái chi tiết đó đã làm bộc phát ở Eguchi một thứ bản năng khác, khác với thứ bản năng gốc cám dỗ kia: đó là bản năng chở che, bản năng bảo vệ.

-         Khám phá chân lý: Tuổi trẻ có tình yêu. Tuổi già có cái chết. Cái chết đến một lần, tình yêu đến hoài hoài.
-         Độc thoại nội tâm chịu ảnh hưởng bởi phân tâm học Freud è Sự giằng xé giữa bản năng và cái siêu ngã.
-         Vẻ đẹp hồn nhiên có tác dụng cứu rỗi linh hồn  è nhân vật chính cảm thấy “như thể có một suối nước tinh khiết rửa sạch tim tôi”; cười vang, hạnh phúc. Tại sao lại cứu rỗi è Diễn biến 3 lần gặp Kaoru: đầu tiên là ở quán trà, nghe lời giới thiệu của bà chủ quán trà đã nảy sinh dục vọng và muốn ngủ với Kaoru; lần thứ 2, khi phát hiện ra Kaoru còn trẻ ở quán trọ; phân vân; lần thứ 3 này, khi vô tình bắt gặp cơ thể của Kaoru trong một tình huống không ngờ tới, được đốn ngộ vẻ đẹp của sự tinh khôi, thanh khiết ==>NIềm vui ập đến như một sự cứu rỗi linh hồn, giúp con người vượt qua dụng vọng bản năng.