Hiển thị các bài đăng có nhãn dân ca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dân ca. Hiển thị tất cả bài đăng

Sức hấp dẫn của ca dao dân ca trong đời sống hôm nay



Như vậy, có thể thấy rằng, sự tồn tại của ca dao dân ca trong đời sống ngày hôm nay vẫn đóng một vai trò nhất định. Ca dao dân ca góp mặt trong trong nhiều hoạt động của đời sống, từ khúc hát ru dịu dàng tha thiết bên cánh nôi tuổi thơ đến những thi thức cổ truyền trang nghiêm, thiêng liêng. Với nghệ thuật, ca dao dân ca trở thành mạch nguồn cảm hứng dồi dào, trở thành dòng sông bồi đắp màu mỡ cho mảnh đất mang tên nghệ thuật, đó là một nguồn chất liệu sáng tạo phong phú và đắt giá cho sáng tạo nghệ thuật. Ca dao dân ca còn mở cho chúng ta một cánh cổng khám phá quá khứ, tìm hiểu những khía cạnh khác nhau của lịch sử cũng như hiểu được đời sống tâm tư, tình cảm của ông cha ta ngày trước, đó là một cầu nối gắn kết giữa quá khứ và hiện tại, nhắc nhở người thời nay không quên đi nguồn cội của mình, cũng như giúp con người thời nay từ chuyện quá khứ mà rút ra những hành trang kinh nghiệm cần thiết để bước vào tương lai. Vai trò ấy quả thật rất quan trọng và không thể thay thế, nhưng vấn đề cần quan tâm là, tại sao  sự tồn tại của ca dao dân ca lại có thể chiếm một vị trí quan trọng như vậy trong đời sống hôm nay?
Sở dĩ ca dao dân ca có một vai trò quan trọng như vậy trong các khía cạnh của cuộc sống bởi vì bản thân ca dao dân ca nội tại một sức hấp dẫn rất riêng, rất mãnh liệt. Trước hết là sức hấp dẫn về nội dung. Nội dung ca dao dân ca rất phong phú và đa dạng, đã thể hiện hết những chức năng cơ bản của văn chương như chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ. Ca dao dân ca giúp con người nhận thức về thiên nhiên, về lịch sử, phong tục, về đời sống tâm tư tình cảm của bản thân mình. Ca dao dân ca dạy tác động và tình cảm, hướng con người đến những lối sống tốt đẹp, con đường mang đạo đức đến với con người của ca dao là con đường của cảm xúc, của trái tim, nên chức năng giáo dục của ca dao dân ca rất sâu sắc và thấm thía, cũng rất hấp dẫn, du dương. Ca dao dân ca mang đến cho con người những khoái cảm thẩm mỹ, cho con người niềm vui khi tìm thấy cái đẹp của đời sống, cái đẹp của tình cảm, qua ca dao dân ca, con người thấy mình đẹp hơn, và cũng chính đặc tính thẩm mỹ ấy góp phần khơi dậy khả năng sáng tạo cái đẹp trong mỗi con người.
Về mặt nghệ thuật, hình thức nghệ thuật của ca dao, qua thời gian, là thứ ngôn ngữ bình dân đã được trau chuốt đến độ tinh luyện. Thứ ngôn ngữ ấy mạnh mẽ đến độ, chẳng những nó đủ sức gắn kết cùng nội dung đã sinh ra nó, mà nó còn có thể trở thành nguồn chất liệu phong phú truyền tải những tâm tư, tình cảm của con người hiện đại. Thi pháp dân gian, do vậy, trong sáng tác hiện đại vẫn được sử dụng ở một khía cạnh nào đó. Các thể thơ, các kết cấu đối đáp, các hình tượng mang tính công thức, các cách nói, cách ví von, các biện pháp tu từ… của ca dao vẫn có sức sống lâu bền và mãnh liệt, trong thời đại ngày nay vẫn có thể trở thành hình hài của cảm xúc thơ hiện đại, chắp cánh cho thơ hiện đại bay cao và chạm được vào trái tim bạn đọc.
Sức hấp dẫn của ca dao dân ca còn thể hiện ở những hình thức diễn xướng của nó, những làn điệu nhạc, những điệu múa, những lệ hội… tất cả điều đó đã làm nên một không gian văn hóa nghệ thuật mang đậm tính dân tộc, trở thành một phần quen thuộc trong tâm hồn mỗi người Việt Nam, hấp dẫn cả bạn bè quốc tế đến tham quan, khám phá, thưởng thức.
C
hính sức hấp dẫn của ca dao làm nên sự tồn tại của ca dao trong cuộc sống hôm nay, nhưng ta cũng phải thấy rằng, so với thời xưa, trong cuộc sống hôm nay, sự tồn tại ấy cũng đã thay đổi rất nhiều, và vai trò của ca dao dân ca trong cuộc sống hiện tại đang dần mờ nhạt hơn trước, nói một cách khác, thời hoàng kim của ca dao dân ca đang ngày một xa dần và lùi vào quá khứ. Về mảng ca dao dân ca lao động, trong quá khứ, các hoạt động lao động từ cấy lúa, đánh cá đến thèo thuyền, giã gạo đều được thực hiện cùng với các khúc hát lao động như hò cấy lúa, hò đánh cá, hò chèo thuyền, hò giã gạo… nhưng đến nay các khúc hát ấy chỉ còn mang tính chất biểu diễn nghệ thuật, người hiện đại không còn hò hát khi lao động. Các bài ca dao về kinh nghiệm, các bài ca nghề nghiệp đến nay cũng chỉ tồn tại như những tác phẩm nghệ thuật, các kinh nghiệm đó chỉ còn mang tinh chất tham khảo, nhường chỗ cho các tri thức cụ thể của khoa học kĩ thuật hiện đại.
Về mảng dân ca nghi lễ, do đặc thù của nhiều bài ca và đặc điểm của đời sống hiện đại, đến nay nhiều nghi lễ đã mất đi, kèm theo đó là sự biến mất của nhiều bài ca dao, dân ca. Một vài nghi lễ như nghi lễ cưới hỏi, nghi lễ đưa tang… đến nay cũng đã có những hình thức khác, không còn sử dụng những bài dân ca nghi lễ như xưa nữa. Những bài dân ca đó đến nay, chỉ còn là hình ảnh của một thời đã qua, ghi chép lại trong sách vở.
Những thay đổi rõ nhất về sự tồn tại của ca dao dân ca trong đời sống xưa và nay, có thể thấy được trong mảng ca dao dân ca về sinh hoạt đời sống. Thời xưa con người hát dân ca trong mọi hoạt động. Họ hát giao duyên, họ hát để làm quen, hát để trêu ghẹo nhau, hát để trách móc, hát để mở đầu câu chuyện, trẻ em thì hát đồng dao trong những trò chơi, người mẹ, người chị, người bà thì hát con, ru em… Thời nay trong hoạt động đời sống dân ca trở nên vắng bóng, người ta không còn ca hát nhiều trong sinh hoạt đời sống nữa. Trong cuộc sống hiện nay sự tồn tại của ca dao dân ca chỉ dễ bắt gặp ở những bài hát ru, còn các trường hợp khác, nếu có, cũng rất hiếm hoi. Nhưng ngay cả những bài hát ru ấy cũng đang ở tình trạng dần dần mờ nhạt.
Sự thay đổi ấy bắt nguồn từ những nguyên nhất rất khách quan. Thứ nhất, nguyên nhân là do sự thay đổi của thời đại, hoàn cảnh xã hội, lịch sử. Thời đại nào tiếng nói ấy, tính cách nào giọng điệu ấy, hoàn cảnh lích sử thời đại thay đổi sẽ dẫn tới những quan niệm về văn hóa cũng như nhu cầu sinh hoạt văn hóa nghệ thuật thay đổi. Thị hiếu nghệ thuật của công chúng thay đổi sẽ dẫn đến sự xuất hiện của các thể loại văn học mới, phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, cũng đồng nghĩa với việc vai trò của ca dao dân ca trong đời sống hiện đại ngày càng trở nên mờ nhạt. Mặt khác, với nhu cầu mở rộng giao lưu văn hóa của thời đại hôm nay, cùng với sự giao thoa văn hóa và sự phát triển của các ngành nghệ thuật đương đại du nhập từ nước ngoài, thị hiếu thẩm mỹ cũng dần dần thay đổi và ca dao dân ca cũng phải nhường lại một phần đất của mình cho các ngành nghệ thuật khác. Sự khách quan ấy cũng đến từ đặc điểm diễn xướng của một số bài hát dân ca, khiến việc sưu tầm và giữ gìn chúng trở nên khó khăn, cũng dần mất đi.
Nhưng cũng có những nguyên nhân rất chủ quan, nguyên nhân từ quan niệm và lối sống của chúng ta. Tính cách sùng ngoại, bài nội, mù quáng chạy theo văn hóa ngoại nhập mà hoàn toàn phủ nhận, quên đi nét đẹp văn hóa dân tộc chính là nguyên nhân khiến giới trẻ bỏ quên ca dao dân ca. Trong bối cảnh hiện đại, điều cần nhất vẫn là có sự học hỏi có chọn lọc và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, cần mở rộng tâm hồn mình để đón nhận cái mới, nhưng cũng cần một phần tâm hồn đóng kín để gìn giữ những gì là trong sáng nhất, hồn nhiên nhất, những khúc hát ca dao dân ca, những khúc hát ru thời thơ ấu.
Sự tồn tại có phần mờ nhạt của ca dao dân ca trong đời sống hôm nay so với trước kia đã đặt ra cho chúng ta vấn đề bảo tồn và gìn giữ vốn có dân tộc. Làm thế nào để những bài hát dân ca còn sống mãi, những nét đẹp truyền thống còn được lưu truyền mãi đến mai sau? Vì sự dần dần mất đi của dân ca vừa có nguyên nhân khách quan vừa có nguyên nhân chủ quan, sự biến mất của nó, một phần chính là sự sàng lọc khách quan, khắc nghiệt nhưng rất công bằng của thời gian, mặt khác, sự mất đi ấy lại ở lỗi của chính chúng ta. Nếu thời gian có trách nhiệm sàng lọc những gì chưa thật sự hoàn thiện, chưa thật sự đáng giá, thì nhiệm vụ của chúng ta là phải giữ lại những điều gì tốt đẹp và đáng giá, bởi nếu chúng ta không biết giữ gìn và trân trọng, thì dù thời gian không sàng lọc, những giá trị ấy cũng sẽ dần mất đi. Ngoài việc sưu tầm, gìn giữ và lưu truyền những bài ca dao dân ca, thì việc cần làm khác là, làm thế nào để giới trẻ yêu thích ca dao dân ca, hay nói khác đi, làm thế nào để sức hấp dẫn của ca dao dân ca đến gần hơn với giới trẻ?
Chúng ta cần những cách thức đặc biệt, những cách thức riêng để đưa ca dao dân ca đến gần hơn với mọi người. Có thể lấy câu chuyện về bài dân ca Scarborough fair của Anh để làm ví dụ.  Bài hát "Scarborough Fair" là một bài hát dân ca xuất xứ từ Anh Quốc, thời Trung Cổ . Scarborough là một thành phố nằm ven bờ biển nước Anh, là hải cảng mà các thương gia, thuyền bè thời đó dùng làm nơi trao đổi hàng hóa, thương mại .Thành phố thành lập từ một ngàn năm trước đây, khi chúa tể Viking Skartha, quyết định lưu lại lâu dài tại Scarborough, biến hải cảng này trở thành một thương cảng quan trọng trong vùng Tây Bắc Anh Quốc. Người ta bắt đầu nghe bài hát Scarborough Fair qua những người hát dạo thời xưa, thường được gọi là bard hay shapers, khi họ di chuyển từ làng mạc này qua thành phố nọ, mỗi nơi lời và cách hòa âm có thay đổi đôi chút . Sau này không còn biết tác giả là ai . Hiện nay tại Anh quốc có nhiều lời hơi khác nhau, cho bản hát cùng mang tên "Scarborough Fair", và có cùng nốt nhạc. Như vậy khởi điểm từ một bài dân ca, Scarborough fair đã dần lột xác để gần gũi với từng thời kì lịch sử, nhưng vẫn giữ được những nét đặc sắc riêng của nó. Tuy vậy, sự nổi tiếng và thành công của bài hát trên toàn thế giới, chỉ có được vào năm 1966, khi Paul Simon thu âm bài hát và phát hành đĩa của mình trên thế giới. Bài hát đã trở thành một hiện tượng, và cho đến nay sức hấp dẫn của nó vẫn được biết đến toàn thế giới.
Sự thành công trong việc gìn giữ bài ca dao Scarborough fair có thể là một gợi ý cho chúng ta về cách đưa ca dao dân ca đến gần hơn với giới trẻ. Bản thân mỗi bài ca dao dân đều có sức sống nội tại và sức hấp dẫn riêng, nhưng làm thế nào để có thể làm cho người trẻ cảm nhận được sức hấp dẫn ấy. Các sáng tác âm nhạc theo phong cách dân gian đương đại, các sáng tác văn học hay các sáng tác nghệ thuật khác sử dụng chất liệu dân gian có thể là một giải pháp để đưa ca dao dân ca gần hơn với giới trẻ. Các chất liệu dân gian được vận dụng một cách ấn tượng và đầy xúc cảm sẽ tác động mạnh vào tình cảm của người tiếp nhận, sự ấn tượng ban đầu ấy sẽ thôi thúc họ tìm về với nguồn gốc của các chất liệu đân gian mà họ đã được thưởng thức. Như vậy, thông qua tác phẩm nghệ thuật đương đại, ca dao dân ca đã gián tiếp đến gần hơn với công chúng, với giới trẻ.
Tuy nhiên, các sáng tác đương đại không thể thay thế ca dao dân ca, không thể phủ định hoàn toàn ca dao dân ca. Vì ca dao dân ca, bản thân nó có những thứ mà tác phẩm đương đại không có, có những giá trị đang giá mà chỉ khi ta ở môi trường diễn xướng, chỉ khi ta được thưởng thức ca dao dân ca đúng nghĩa của nó, ta mới cảm nhận được. Chính vì vậy, các sáng tác hiện đại và ca dao dân ca có mối quan hệ rất chặt chẽ, thống nhất như không đồng nhất. Chất liệu ca dao dân ca làm sáng tác hiện đại, khiến các sáng tác hiện đại hay hơn, xúc cảm hơn, các sáng tác hiện đại giúp ca dao dân ca đến gần hơn với công chúng, giới trẻ. Dẫu vậy ta không thể lấy cái này mà thay thế cái kia được, và tất cả, nếu là chân giá trị, thì đều cần được gìn giữ. Mặt khác, cũng cần tỉnh táo để việc sử dụng chất liệu ca dao dân ca vào sáng tác không trở thành sự xuyên tạc, hủy hoại ca dao dân ca, cần có một cái nhìn rõ ràng và tách biệt giữa nghệ thuật và phi nghệ thuật, giữa cái đẹp thật sự và những cái giả tạo, vô bổ.
Nhiệm vụ của chúng ta, những người làm nghề sư phạm, trong việc đưa ca dao dân ca đến gần hơn với mọi người chính là nhiệm vụ định hướng và làm cho mọi người hiểu được cái hay, cái đẹp của ca dao dân ca. Công việc ấy bắt đầu từ chính bản thân mình, phải hiểu và thấy được cái hay cái đẹp của ca dao dân ca, ta mới có thể truyền đạt những điều ấy cho học sinh của mình, với hy vọng rằng học sinh của chúng ta sẽ nhân rộng sự hiểu biết ấy hơn nữa.

“Lạ lùng thay nhân dân thông minh
Không hề lừa ta dù ca dao cổ tích
Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật
Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời”
(Chế Lan Viên)
B
ên ta từ cánh nôi cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, ca dao dân ca trở thành người bạn tri kỉ, trở thành một mảnh hồn không thể thiếu của mỗi con người. Cùng với thời gian, ca dao dân ca tắm mát tâm hồn ta và làm ta trưởng thành hơn lên bằng những bài học tình người, giản dị mà sâu sắc, chân thành mà thấm thía… Sự tồn tại của ca dao dân ca trong đời sống hiện nay tuy rằng đang mờ nhạt hơn trước, và có nhiều giá trị của ca dao dân ca đã và đang dần mất đi, nhưng ta vẫn có thể hy vọng và tin tưởng vào sức sống mạnh liệt của ca dao dân ca, tin tưởng vào vị trí không thể thay thế được của ca dao dân ca trong đời sống. Tuy vậy, sự tồn tại của vị trí ấy có bền vững hay không, tất cả đều phụ thuộc vào chính chúng ta, những con người của thời đại hôm nay, những con người đang chuẩn bị những lực lượng vật chất cần thiết để làm nên tương lai, chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn và bảo tồn ca dao dân ca cũng như văn học dân gian, để chắc chắn rằng trong tương lai, con cháu chúng ta cũng lớn lên hồn nhiên và trong sáng  như ông cha ta đã từng, nơi suối nguồn trong trẻo của tâm hồn dân tộc: Ca dao dân ca!

Ca dao dân ca: cầu nối giữa quá khứ và hiện tại



C
a dao dân ca trong cuộc sống hôm nay không chỉ góp mặt ở các hoạt động hiện tại, các hoạt động của đời sống, các hoạt động nghệ thuật, sự tồn tại của ca dao dân ca còn có giá trị như một cầu nối nối giữa quá khứ và hiện tại, là công cụ để người thời nay nhận thức quá khứ, để hiểu rõ quá khứ và rút ra được những bài học cho mình. Văn học là một tấm gương phản ánh cuộc sống, văn học bao chứa trong nó hiện thực khách quan với tất cả những biến động dù là nhỏ nhất của nó, đồng thời cũng bao chứa cả những cảm xúc, tâm tư tình cảm của con người gắn liền với hiện thực khách quan ấy. Mặt khác, như Sedrin đã từng nói, “nghệ thuật nằm ngoài sự băng hoại của thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”, những gì của hiện thực khách quan về con người, thời đại được thể hiện trong văn chương, sẽ được văn chương gìn giữ qua những biến động và thăng trầm của thời gian, để những chân giá trị được tồn tại mãi và để gửi gắm những bức thông điệp quan trọng cho những thế hệ sau. Chính vì những điều ấy, nên ca dao dân ca, một phần của văn học, đã trở thành một công cụ đắc lực để người thời nay nhận thức quá khứ, và việc nhận thức quá khứ thông qua ca dao dân ca nói riêng hay văn học dân gian nói chung, cũng là một nhiệm vụ không thể chối bỏ của người thời nay.
Trong cuộc sống hôm nay, việc nghiên cứu ca dao dân ca nói riêng hay việc nghiên cứu văn học dân gian nói chung cũng đang rất được chú trọng, không chỉ trong phạm vi ngành nghiên cứu văn học, mà còn các ngành nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu tôn giáo, nghiên cứu văn hóa. Trong nhà trường, văn học dân gian bao gồm cả ca dao dân ca cũng rất được chú trọng, trở thành một mảng lớn của bộ môn văn học. Hệ đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng cũng có rất nhiều ngành học liên quan đến việc nghiên cứu ca dao dân ca, nhất là ngành ngữ văn và ngành âm nhạc.
Vậy, ca dao dân ca giúp cho chúng ta nhận thức được điều gì từ quá khứ? Ca dao dân ca cho chúng ta hiểu rõ hơn về những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, qua quan điểm tâm tư tình cảm mang tính thẩm mỹ của dân gian. Những bài ca dao về lịch sử chủ yếu nói về những bậc vĩ nhân, những vị lãnh tụ, những anh hùng là trung tâm của các sự kiện lịch sử, được nhân dân kính trọng, tôn thờ. Có thể kể đến một vài bài ca dao:
“Ai về đến huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa hình ốc khác thường
Trải bao năm tháng, nẻo đường còn đây.”
“Thùng thùng trống đánh quân sang
Chợ Già trước mặt, quân Nam bên đàng
Qua Chiêng thì rẽ về Giàng
Qua quán Đông Thổ vào làng Đình Hương
Anh đi theo chúa Tây Sơn
Em về cầy cuốc mà thương mẹ già.”
“Vĩnh Long có cặp rồng vàng
Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Trần.”
Không có những chi tiết cụ thể, cũng chẳng có những thông tin về ngày tháng,  giá trị lịch sử của ca dao dân ca hay văn học dân gian không bằng chính sử, nhưng đó cũng là một nguồn tư liệu cho nhà sử học, giúp ho thấy được quan điểm của nhân dân trong từng thời kì lịch sử, để mỗi sự kiện không đơn thuần là sự kiện, mà nó còn bao hàm cả tâm tư tình cảm thái độ của nhân dân, của dân tộc trong đó.
Ngoài ra, ca dao dân ca còn cho chúng ta những hiểu biết về phong tục tập quán của người xưa, như tục ăn trầu, tục thách cưới , lễ vinh quy bái tổ của người đỗ đạt trạng nguyên…:
“Đêm qua trăng sáng mập mờ
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh
Vào vườn trẩy quả cau xanh
Bổ ra làm sáu trình anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi tàu
Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay
Mời anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt, dù cay dù nồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương”
“Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh quốc cấm nên voi không bàn
Dẫn trâu sợ họ máu hàn
Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo mời dân mời làng
- Chàng dẫn thế em lấy làm sang
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn, thách gà
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang
Củ to thì để mời làng
Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi
Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi
Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà
Bao nhiêu củ rím, củ hà
Để cho con lợn, con gà nó ăn”
“Cái bống mặc xống ngang chân
Lấy chồng kẻ chợ cho gần, xem voi
Trèo lên trái núi mà coi
Thấy ông quản tượng dắt voi đánh cồng
Túi vóc mà thêu chỉ hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi
Một mai chồng đỗ vinh quy
Võng anh đi trước anh thì õng sau
Tàn quạt, hương án theo hầu!
Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!”
Phong tục tập quán chính là nếp sống, thể hiện nếp nghĩ, nếp cảm của người xưa, mang đậm tính cách và bản sắc dân tộc. Qua ca dao dân ca, các phong tục tập quan này hiện lên đầy sinh động, ca dao dân ca dẫn dắt những chi tiết phong tục tập quán không phải với mục đích thuyết minh, mà lồng vào đó bao giờ cũng là tâm tư tình cảm, là buồn vui yêu ghét, là ước mơ, là khát vọng… Đó là những nét đẹp văn hóa không bao giờ lu mờ, là chìa khóa để mở cánh cửa khám phá tính cách và tâm hồn và tính nhân văn của dân tộc. Chính vì vậy, ca dao dân ca cũng trở thành một nguồn tư liệu nghiên cứu phong phú của các nhà nghiên cứu văn hóa, và cả của ngành du lịch.
Không chỉ đi vào các hoạt động sống, ca dao dân ca mở cho chúng ta cánh cửa đồng vọng, để những cảm xúc từ trái tim đồng vọng với những cảm xúc của trái tim, vượt qua rào cản của không gian và thời gian, để những cung bậc tâm tư tình cảm được chia sẻ và thấu hiểu. Trong quá trình khám phá quá khư, ca dao dân ca giúp người thời này hiểu được những cảm xúc của người xưa gửi gắm, đồng thời từ những cảm xúc ấy, họ cũng lại tìm thấy chính mình. Đó chính là sức đồng cảm mạnh liệt của thơ ca, của ca dao dân ca. Ca dao dân ca thuộc thể loại trữ tình, nên cảm xúc gửi gắm trong ấy rất đa dạng phong phú với đủ cung bậc, nhưng mảng đề tài phổ biến hơn cả có lẽ đó là mảng đề tài về tình yêu, với rất nhiều cung bậc của tình yêu, trong nhiều giai đoạn từ chớm nở đến khi chia lìa:
“Chẳng tham nhà ngói rung rinh ,
Tham vì một nỗi , anh xinh miệng cười 
Miệng cười anh đáng mấy mươi 
Chân đi đáng nén , miệng cười đáng trăm.”

“Có đêm thơ thẩn một mình 
Ở đây thức cả năm canh rõ ràng 
Có đêm tạc đá ghi vàng 
Ngày nào em chả nhớ chàng , chàng ơi !”
“Xa nhau xa bóng xa hình
Nhưng không xa được tấm tình cho nhau”
“Yêu nhau chẳng quản gần xa
Một ngày chẳng đến bằng ba bốn ngày”

“Tìm nàng mà chẳng thấy nàng
Bâng khuâng như mất lạng vàng trong tay”

Cảm xúc là cái cá nhân, mỗi người, mỗi hoàn cảnh sẽ có những cảm xúc với những cung bậc khác nhau. Tuy vậy, trong mỗi con người luôn có những cảm xúc mang tính bản năng, nghĩa là trong hoàn cảnh tương tự ta cũng sẽ có những cảm xúc tương tự. Chính điều đó làm nên sợi dây đồng cảm giữa người với người, mà ca dao dân ca, với sức sống lâu bền của nó, đã trở thành người sứ giả chân thành của trái tim, vượt qua mọi rào cản và giới hạn của sự tồn tại để đưa những trái tim cách xa nhau cả ngàn năm đến gần với nhau. “Thơ là chuyện đồng điệu”(Tố Hữu), tìm thấy những cảm xúc của người xưa, hiểu người xưa, cũng chính là người thời nay tìm thấy chính mình, thấu hiểu được những cảm xúc của chính mình để từ đó tìm ra đường đi đúng trong cuộc sống của mình.
Ca dao dân ca còn giúp người thời nay hiểu rõ được những đau khổ trong số phận của người xưa, thông qua những bài ca dao than thân. Đó là số phận đau khổ và bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội trọng nam khinh nữ, là tiếng lòng đau đớn của những thân phận truân truyên, “Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” :
“Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay
Tôi về đã mấy năm nay
Buồn riêng thì có, vui rày thì không.:”
“Ngày thời vất vả ngoài đồng
Tối về thời lại nằm không một mình
Có đêm thức suốt năm canh
Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò…”
“Đường xa muôn dặm sơn hà
Thân em trôi nổi biết là về đâu.
Nao nao mặt nước gợn sầu
Gẫm câu nhân thế ruột đau như chín.”

“Ai về đợi với em cùng
Thân em nay bắc mai đông một mình
Chi bằng ruộng tốt rừng xanh
Vui cha, vui mẹ, vui anh em nhà!
Áo tứ thân em treo trên mắc
Đêm anh nằm anh đắp lấy hơi
Nhớ em em vẫn nhớ đời
Quên em, em mới ra người kiếp xưa”
Đó cũng có thể là lời người nông dân, những con người thấp cổ bé họng bị áp bức bóc lột trong xã hội cũ, hóa thân trong hình ảnh con cò lam lũ, cực nhọc, tội nghiệp đáng thương:
“Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Nếu có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con”
“Cái cò chết tối hôm qua
Có hai hạt gạo với ba đồng tiền
Một đồng mua trống mua kèn
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong
Một đồng mua mớ rau răm
Đem về thái nhỏ thờ vong con cò”
“Cái cò là cái cò con,
Mẹ đi xúc tép để con ở nhà.
Mẹ đi một quảng đường xa,
Mẹ xà chân xuống phải mà anh lươn
Ông kia có chiếc thuyền nan,
Chở vào ao rậm xem lươn bắt cò.
Ông kia chống gậy lò rò,
Con lươn tuột xuống con cò bay lên.”
Đối diện với số phận bất hạnh của người xưa trong ca dao, người thời nay sẽ nảy sinh lòng trắc ẩn và yêu thương con người, từ đó sống đẹp hơn, tốt hơn. Nhìn nhận được những nỗi đau trong quá khứ, ta sẽ biết trân trọng hiện tại và có ‎ý thức xây dựng, bảo vệ hiện tại. Mặt khác, cuộc đời không bằng phẳng, bất kì thời đại nào, dù xưa hay nay, dù là người xưa hay người nay thì số phận đều có những nỗi đau riêng, những bất hạnh riêng, đối diện với nỗi đau của người xưa ta tìm được sự đồng cảm, đồng thời cũng tìm được sức mạnh vượt qua nghịch cảnh, khi ta nhận thức được rằng nghịch cảnh là một phần không thể thiếu trong cuộc sống thì ta sẽ không ảo tưởng về cuộc sống bằng phẳng, cũng không thấy mình là kẻ bất hạnh, khi ấy ta sẽ chuẩn bị cho mình một tâm thế để đương đầu với tất cả, và dần dần vượt qua.
Có ai đó dã nói rằng, quá khứ là những gì đã qua, tương lai mãi là một bí ẩn, và hiện tại là một món quà. Nghĩa là ta phải biết sống cho hiện tại, biết qu‎í trọng món quà mà cuộc sống ban tặng. Nhưng hiện tại được làm nên từ quá khứ, và tương lai được làm nên từ hiện tại. “Quá khứ làm thay đổi hiện tại, cũng nhiều như hiện tại làm thay đổi quá khứ”. Tìm về với quá khứ qua ca dao dân ca, hiểu về thời đại đã làm nên thời đại của ta, ta sẽ hiểu hơn nhiều thứ về cuộc sống, về bản thân, về xã hội. Ta cũng sẽ rút ra được bài học cho mình, học từ quá khứ để sống tốt hơn trong hiện tại, cũng chính là đang đặt những viên gạch vững chắc xây dựng nên tương lai. Và ca dao dân ca, với nguồn tri thức, với những tư tưởng tình cảm gửi gắm, chính là một cánh  cửa đầy xúc cảm để con người thời nay chạm tay vào quá khứ.


MỐI QUAN HỆ GIỮA CA DAO DÂN CA VÀ VĂN HỌC VIẾT



Sự tồn tại của ca dao dân ca trong đời sống hôm nay còn thể hiện ở mối quan hệ của ca dao dân ca với nghệ thuật hiện đại. Với nghệ thuật, ca dao dân ca cũng đóp góp một phần không nhỏ cho quá trình sáng tạo. Nghệ thuật là tấm gương chân thực phản ánh đời sống, ca dao dân ca,  nếu với những hoạt động sinh hoạt trong đời sống đóng một vai trò rất quan trọng, thì khi bước từ địa phận cuộc đời vào địa phận nghệ thuật, nó cũng đóng một vai trò không thể thiếu  là trở thành chất liệu nghệ thuật, cung cấp cho hoạt động sáng tác nghệ thuật một nguồn thi liệu gợi cảm, đa dạng, dồi dào, và đắt giá. Về vấn đề này, giáo trình văn học dân gian nhận định: :“ Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam. Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian. Nhiều tác phẩm , nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng , là thi liệu , văn liệu của văn học viết. Nhiều nhà thơ , nhà văn lớn của dân tộc ( Nguyễn Trãi , Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du , Hồ Xuân Hương , Phan Bội Châu , Hồ Chí Minh,….) đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú”. Đó là một nhận định xác đáng.
T
ại sao ca dao dân ca lại có thể trở thành một nguồn chất liệu dồi dào cho đời sống nghệ thuật? Thứ nhất, như nhà văn Serdin đã từng nhận xét: “Nghệ thuật nằm ngoài sự băng hoại của thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”, ca dao dân ca nói riêng và văn học dân gian nói chung, với tư cách là hình thái văn học đầu tiên của dân tộc, cũng chính là hình thái văn học trải qua sự sàng lọc, rèn dũa của thời gian nhiều nhất, bị thời gian tác động mạnh mẽ và khắc nghiệt nhất. Qua bàn tay tàn nhẫn nhưng công bằng của thời gian, những gì chưa hoàn thiện, những giá trị nhất thời, dần bị phủ mờ bởi lớp bụi lãng quên. Chỉ còn những gì tinh túy nhất, hoàn thiện nhất, tốt đẹp nhất, mới đủ sức vượt qua sự thử thách ấy để tồn tại cho đến ngày hôm nay. Cho nên, không ngoa khi nói rằng, những gì còn lại của văn học dân gian cho đến hôm nay chính là những hạt ngọc sáng nhất, lấp lánh nhất của quá khứ. Chính ánh sáng đã được bàn tay thời gian tôi luyện ấy, chính là một nguồn cảm hứng, một chất liệu tuyệt vời cho sáng tác nghệ thuật của hiện đại. Bên cạnh đó, văn học dân gian đồng hành cùng tuổi thơ của mỗi chúng ta, êm ả bên cánh ru êm, chính điều đó, trong cả hoạt động sáng tác lẫn hoạt động tiếp nhận, văn học dân gian đề có những tác động nhất định đến tư tưởng và tình cảm của chúng ta.
Mặt khác, với bản chất của thể loại trữ tình, ca dao dân ca là nơi cất giữ mọi cung bậc cảm xúc của người xưa, qua bao biến động của thời gian, dần chắt lọc lại đến nay, đã kết tinh thành những cảm xúc có tính nhân bản, là những cảm xúc thuộc về bản chất con người, những cảm xúc luôn rung động trong trái tim con người ở mọi thời, bất kể quốc gia, thời đại. Khi ấy, ngôn ngữ chỉ là hình thức thể hiện, còn cảm xúc chứa đựng trong ấy, có sức mạnh lan truyền lớn lao, có thể chạm vào bất kì trái tim nào, dù là lạnh giá nhất. “Thơ ca là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người”, trong hoạt động sáng tác  hôm nay, sự hồn nhiên ấy, cái cảm xúc bản năng và chân thật ấy cần cho chúng ta biết bao?
Hơn nữa, về mặt nghệ thuật, ca dao dân ca vốn là lời hát, bản thân nó có tính nhạc cả ở trong hình thức của lời hát, tức chỉ đọc ca dao lên cũng đã thấm đẫm chất nhạc trong đó. Chính đặc điểm này về nghệ thuật cũng giúp ca dao trở thành sư lựa chọn của người nghệ sĩ trong việc sử dụng ngôn từ của ca dao làm ngôn từ của tác phẩm, dùng chất nhạc của nhân dân kết tinh trong ca dao làm nên nhịp điệu du dương trầm bổng chắp cánh cho nội dung mà mình gửi gắm, để con đường đến với trái tim bạn đọc của tác phẩm trở nên gần hơn và sâu sắc hơn.
Tuy có những đặc tính như vậy, nhưng việc sử dụng ngôn ngữ của cao dao dân ca nói riêng, hay văn học dân gian nói chung, đối với sáng tác nghệ thuật, chỉ dừng lại ở mức độ là chất liệu. Người nghệ sĩ sáng tác  nếu có sử dụng ngôn ngữ ca dao dân ca vào tác phẩm, thì những yếu tố sử dụng ấy cũng rất tiết chế, và chỉ dừng lại ở mức là công cụ để thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm. Hay nói cách khác đi, trong quá trình sáng tác, mỗi người nghệ sĩ đều phải dụng công biến cái chung của dân gian thành cái riêng trong sáng tác của mình. Thật ra điều này cũng rất dễ hiểu, bởi đặc trưng của nghệ thuật là sự sáng tạo, Nam Cao đã từng nói: “Văn học không cần những người thợ khéo tay làm theo những kiểu mẫu đưa cho, văn học chỉ cần những người biết đào sâu, khơi những nguồn chưa ai khơi, tìm ra những gì chưa có”, Gorki nói : “Anh có thể học cách viết ở tất cả những nhà văn nổi tiếng, nhưng anh phải tìm cho mình một giọng điệu riêng”, cũng như vậy, Sê khốp cho rằng: "Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả...Nếu anh không có giọng riêng,anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ" , nếu không sáng tạo mà sao chép y nguyên những gì đã có, thì đó không phải là hoạt động nghệ thuật, và thành phẩm làm ra cũng sẽ bị quên lãng.
Vậy các nhà văn nhà thơ của thời đại hôm nay đã sử dụng chất liệu ca dao dân ca trong tác phẩm của mình như thế nào?
Về mặt nội dung, ca dao dân ca cung cấp cho văn học một nguồn chất liệu dồi dào, đó là những hình tượng nghệ thuật quen thuộc con cò, cái bống, cây trúc, cay mai, hoa nhài, gốc đa, sân đình… Những hình tượng ấy vốn dĩ là những hình tượng được lặp đi lặp lại trong ca dao, truyền tải những cung bậc tình cảm khác nhau với sức lay động mạnh mẽ. Bước một từ thế giới ca dao vào trang giấy của văn học viết, những chất liệu ca dao bỗng lột xác, những nội dung, tình cảm của ca dao dân ca được con người thời nay soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau, hòa nhịp với những cung bậc tình cảm của thời đại mới để trở thành những nội dung đầy tính mới mẻ, mang đặc trưng của văn học viết hiện đại.
Từ bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen” quen thuộc, Phùng Quán đã đưa ra một cái nhìn mới mẻ, nếu không muốn nói là táo bạo:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Mặc cho câu ca được cả nước lưu truyền
Và đời vẫn tin là ca ngợi phẩm chất của sen.
Nhưng tôi không thể nào tin được
Câu ca này gốc gác tự nhân dân
Bởi câu ca sặc mùi phản trắc
Của những phường bội nghĩa vong ân!
Vốn con cái của giai cấp cùng khổ
Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son
Nghĩ đến cha mẹ chúng xấu hổ
Chúng mưu toan giấu che từ bỏ
Nói xa gần chúng mượn chuyện sen
….Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Tất cả là trong cái chữ “gần”
Chỉ một chữ mà ta thấu gan thấu ruột
Những manh tâm bội nghĩa vong ân.
Bùn với sen đâu phải chuyện gần?
Chính là sen mọc lên từ trong đó
Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh…
Tất cả, tất cả, tất cả!…
Là do bùn hôi nuôi dưỡng
Ngay cả hương thanh khiết ta đặt lên bàn thờ cúng
Cũng là xương thịt của bùn tanh!
Như nhân dân
Gian truân, thầm lặng, vô danh
Đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng, nghệ sĩ…
Nhân danh bùn
Nhân danh sen
Tôi đề nghị:
Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian!
(Sen)
Bài thơ là thực chất lại là một bài bình giảng đầy mới mẻ cho một câu ca dao đã quá đỗi quen thuộc.  Sen và bùn trong câu ca dao xưa, theo cách hiểu cố hữu của chúng ta là ẩn dụ cho nét đẹp thanh cao của con người Việt Nam, dù ở gần bùn đen, ẩn dụ cho những xấu xa, cạm bẫy của cuộc sống, vẫn giữ được cốt cách thanh cao của mình. Ở đây Phùng Quán đã nhìn bùn và sen theo một mối quan hệ khác, xuất phát từ cuộc sống, bùn chính là nguồn sống của sen, và mối quan hệ giữa bùn và sen không phải là “gần” mà là mối quan hệ hữu cơ, sen dựa vào bùn mà sống. Chính cái nhìn của người hiện đại đi sâu vào bản chất của hiện tượng đã làm sen và bùn ở câu ca dao xưa có một tầng nghĩa khác, tách li hoàn toàn với tầng nghĩa chỉ nhìn vào biểu hiện bên ngoài của người xưa. Bùn ở đây lại ẩn dụ cho cha mẹ, cho nhân dân lam lũ, sen lại là ẩn dụ cho những kẻ thành tài từ cái lam lũ ấy, để rồi quay lại phủ nhận, phụ bạc cái nôi mà mình đã sinh ra. Thái độ của tác giả ở đây rất quyết liệt và ngang tàn: “Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu nhân gian!”.Có lẽ chính cái thái độ ấy đã làm nên sức hấp dẫn của bài thơ, bởi “Sự tầm thường là cái chết của thơ ca”. Ở đây là Phùng Quán phủ định dân gian, phủ định một bài ca dao cổ xưa? Bề ngoài là vậy, nhưng thực chất, chính thái độ căm ghét, bất bình với những kẻ ăn cháo đá bát, phủ nhận nguồn cội là nguyên nhân cho giọng điệu có vẻ như liều lĩnh ấy. Phùng Quán không phủ nhận câu ca dao xưa, mà Phùng Quán đang phê phán đả kích những kẻ vong ơn bạc nghĩa trong cuộc sống này, để từ đó đưa ra một cách sống đúng đắn, tốt đẹp, đó mới là nghĩa đích thực. Và như vậy, câu ca dao xưa, đã trở thành một chất liệu hoàn hảo, trở thành một thứ vũ khí sắc bén trong tay nhà thơ liều lĩnh, để tư tưởng được cất lên đầy tính thuyết phục và cũng đầy tính chiến đấu.
Chất liệu ca dao dân ca còn là những cung bậc đồng cảm, hòa điệu với những cảm xúc của con người thời nay, sự đồng vọng giữa trái tim với trái tim, giữa cảm xúc với cảm xúc đã hòa trộn nên những áng thơ đẫm nước mắt và đầy trăn trở. Đó là hình cảnh con sáo sang sông từ câu lí Nam Bộ cất cánh vào thơ:
“ Tẽn tò con sáo sang sông
Bờ bên này tưởng cũng không có gì
Tẽn tò con sáo bay đi
Lạc bờ bên ấy có gì cũng không”
(Con sáo sang sông – Đồng Đức Bốn)
Cũng là hình ảnh con sáo sang sông trong điệu lí Nam Bộ, nhưng từ cái tiếc nuối của người ở lại, “Ai mang con sáo sang sông/ Để cho con sáo sổ lồng bay đi”, là cái tiếc nuối của chàng trai ngậm ngùi trước cảnh “sáo sang sông”, nhìn tình yêu của mình vụt mất, từ cái tiếc nuối của dân ca, đến bài thơ hiện đại hình ảnh con sáo lại cõng trong mình cái tẽn tò chênh vênh quẩn quanh và hụt hẫng của chính mình, của người con gái ra đi. Tẽn tò… Tẽn tõ… Cấu trúc ấy cứ lặp đi lặp lại tạo thành một vòng luẩn quẩn đầy xót xa, càng xót xa hơn nữa khi bờ bên này “tưởng cũng không có gì”, bờ bên ấy “Có gì cũng không”, từ ngữ lặp lại và xáo trộn trong cái vòng quẩn quanh bế tắc của cảm xúc, để rồi đọng lại một cái gì đó xót xa và hụt hẫng lắm, chênh vênh lắm, như những dư ba ngân mãi, day dứt khôn nguôi. Ở đây, cái nhìn về chủ thể cảm xúc thay đổi, nhà thơ đã thay đổi điểm nhìn cảm xúc cho chất liệu, để từ đó bày tỏ những cảm xúc mà mình ấp ủ.
Cũng có những lúc, cảm xúc ấy là những cung bậc đồng điệu, chắp cánh cho nhau:
“Qua bao mùa hoa cải
Chỉ mình anh biết thôi
Mình anh không dám hái
Hoa cải bay về trời”

(Mùa hoa cải – Nghiêm Thị Hằng)
Câu thơ “Hoa cải bay về trời” mở đường cho chúng ta tìm về câu ca dao xưa:
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”
Câu ca dao xưa ngậm ngùi một nỗi niềm chia cắt. Sự phụ bạc của tình yêu, có thể. Nguyễn Ngọc Tư cũng từng viết về câu ca dao ấy: “Đau, tức vậy mà trách cứ nhẹ hều…”. Đấy là cái hiền lành thâm trầm của người xưa. Cái đau thâm trầm ấy hòa một nhịp với nỗi niềm người con gái ẩn thân trong hình ảnh hoa cải, bông hoa cải mà “anh không dám hái”, đê rồi đành ngậm ngùi “Bay về trời”. Sự hòa nhịp ấy tạo nên một cộng hưởng man mác buồn, đọng lại trong ta cái ngậm ngùi tiếc nuối, làm cho bài thơ của Nghiêm Thị Hằng phủ mờ một màu vàng bạt ngàn của những vườn cải đầy hoa, mà cũng xa ngái một màu vàng của kí ức và những điều dang dở…
Ngoài làm chất liệu cho nội dung, ca dao dân ca còn là chất liệu cho việc xây dựng hình thức nghệ thuật. Sử dụng chất liệu ca dao dân ca vào việc xây dựng hình thức của tác phẩm văn học thực chất chính là mượn cách nói của người xưa để thể hiện đến những chuyện của thời nay, dùng ngôn ngữ của người xưa để góm ghém cảm xúc của người hiện đại. Có thể lấy một đoạn trong bài thơ “Chiều ca dao” của Ngô Thị Ý Nhi làm ví dụ:
“Ngủ đi anh! Ngủ đi anh!
À ơi!
Con cò bay lả bay la
Bay từ cổ tích bay qua đời mình
Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim ăn ghém thì mình xa nhau…
Đoạn thơ dùng hình thức của những khúc hát ru với tiếng “à ơi”, “ngủ đi” để tạo nên âm hưởng da diết trầm bổng, chính vì thế từng vần thơ cất lên êm dịu và chan chứa tình cảm như những nốt nhạc trong làn điệu hát ru. Những hình ảnh quen thuộc của ca dao như cánh cò êm ả cũng làm tăng thêm nhạc tính của đoạn thơ. Nhưng sự vận dụng hình thức của ca dao vào thể hiện tưởng phải kể đến hai câu thơ cuối:
Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim ăn ghém thì mình xa nhau…
Hai câu thơ này là sử dụng hình thức của câu ca dao:
Bao giờ rau diếp làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
“Rau diếp làm đình”, “gỗ lim thái ghém” là những sự kiện hoang đường, chẳng bao giờ xảy ra, cũng giống như cách sử dụng của câu ca dao “Bao giờ trạch đẻ ngọn đa…”, đặt chúng với “bao giờ” y chỉ một mốc thời gian không bao giờ đến, là một cách nói trực tiếp mà gián tiếp, dùng một mốc thời gian mơ hồ để phủ định một  sự việc nào đó. Nhưng nếu câu ca dao xưa đầy oán trách, đầy tuyệt vọng,  “bao giờ… thì mình lấy ta”, thì bài thơ của Ngô Thị Ý Nhi lại đầy tin yêu vào sự bền vững của tính yêu “Bao giờ… thì mình xa nhau”. Cùng một cách nói, nhưng cái đợi chờ mòn mỏi của quá khứ hóa thân vào bài thơ hiện đại lại chở thành niềm tin yêu vô bờ. Ở đây ca dao đã trở thành một chất liệu hình thức, làm nên hình hài sắc vóc cho nội dung, làm tình cảm của nội dung cất cao và đầy sức lay động. Để làm được điều ấy, tài năng và sự tinh tế của nhà thơ trong việc nắm bắt cảm xúc và vận dụng ngôn ngữ nhân dân đã được vận dụng một cách tài hoa, khéo léo.
Như vậy, trong cuộc sống hôm nay, chất liệu ca dao dân ca thể hiện trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn chương thể hiện khá rõ và đặc sắc, nhưng đa số chất liệu ấy chỉ dùng cho thơ, như Xuân Diệu từng nhận xét, đại y rằng, nhà thơ học thơ từ cao dao, còn nhà văn học chuyện từ cổ tích. Sự tương đồng về phương thức biểu đạt giữa ca dao và thơ, phương thức trữ tình, chính là mối liên kết mạnh mẽ giữa ca dao và thơ ca hiện đại, đó cũng là điều kiện cơ bản để ca dao trở thành nguồn chất liệu dồi dào cho sáng tác thơ ca.
K
hông chỉ là chất liệu sáng tác, đối với nghệ thuật, sự tồn tại của ca dao dân ca còn có vai trò là cảm hứng sáng tác. Tố Hữu đã từng nói, “cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới  của văn chương”, cuộc đời chính là mảnh đất màu mỡ để cái cây nghệ thuật bắt rễ và xanh tốt. Ca dao dân ca, một mặt là một loại hình nghệ thuật, nhưng mặt khác, chính loại hình nghệ thuật ấy lại gắn bó với đời sống, tồn tại gắn chặt với đời sống. Với tư cách là một loại hình nghệ thuật, ca dao dân ca trở thành nguồn thi liệu dồi dào cho sáng tác văn học hiện đại. Nhưng với tư cách là một phần của cuộc sống, của hiện thực khách quan, ca dao dân ca lại trở thành một nguồn cảm hứng cho sáng tạo, trở thành động lực của cảm xúc sáng tạo. Ca dao dân ca có thể là lời đề từ, trở thành chìa khóa để giải mã cảm xúc của bài thơ:
“Con ơi mẹ dặn câu này
Sông sâu chớ lội đò đầy chớ đi…
(ca dao)

Người dưng người ở đâu về
đi cùng ta một chuyến đi xuồng đầy
Hớ hênh nghiêng chút bên này
sông sâu chới với bàn tay chia lìa
hớ hênh nghiêng chút bên kia
giọt đau thương sẽ đầm đìa mắt ai.”

(Xuồng đầy – Nguyễn Duy)
Ca dao cũng có thể là một câu hát của chủ thể trữ tình, là bài hát từ đời sống vào thơ:
“Sẽ có một ngày đời thật bình yên,
Em ngủ vùi trong vòng tay kẻ khác,
Anh lang thang giữa đời thầm hát: 
"Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay"
.
(Gió đưa cây cải về trời- Hương Trà)
“Mấy năm rồi, thơ em buồn hơn
Áo em rộng, lòng em tan nát
Những bài hát ngày xưa em vẫn hát
“Cây trúc xinh, quán dốc…gốc đa làng…”

(Xuân Quỳnh)
Ca dao dân ca có thể là cảm hứng cho rất nhiều tứ thơ độc đáo, trở thành tiêu đề của bài thơ:
Bao giờ cho tới ngày xưa
Yêu như các cụ cho vừa lòng ta
Cái thời chưa nhiễm SIDA
Yêu lăn yêu lóc la đà đã chưa
Được yêu như các cụ xưa
Cũng trăng cũng gió cũng mây mưa ào ào
Được yêu như thể ca dao
Đủ phờ phạc đất đủ lao đao trời
Tây Tàu cũng thế thì thôi
Y chang cay đắng ngọt bùi khổ đau
Không trầu mà cũng chẳng cau
Làm sao cho thắm môi nhau thì làm.
(Được yêu như thể ca dao – Nguyễn Duy)
“Vườn xưa người khác đã rào
Khóm mai thay chỗ khóm đào ngày xưa
Em ngồi giặt áo giữa trưa
Đâu rồi môi hát vu vơ một mình?
Em ngồi giặt áo lặng thinh
Vò cho sạch những phận mình xót thương
Giũ cho sạch những giọt buồn
Phơi cho khô hết nhớ thương xa vời…
Đàn Kiều có mấy khúc vui
Câu Kiều có vận vào đời em chăng?
Tình so chưa đủ ngũ âm
Áo chồng con đã nặng oằn dây phơi
Áo ca dao gió cuốn rồi
Cầu ca dao trả cho người khác qua…
Tóc mai rủ xuống hiên nhà
Chuyện xưa dù nhắc cũng là chuyện xưa…
Em ngồi giặt áo giữa trưa
Rát bàn tay vẫn vò chưa sạch lòng
.”
(Lỗi hẹn cùng ca dao – Thanh Nguyên)
Lễ hội dân gian với những khúc dân ca cũng trở thành một không gian cho cảm xúc tình tự:
Gặp nhau tự điệu dân ca
Phải tìm đến hội để mà tìm nhau…
Người đông thấy những chỏm đầu
Nào nhìn ra cánh áo nâu mà tìm?
Hội Lim mở giữa đồi Lim
Người nay cứ thích đi tìm người xưa!
Có gì đâu mấy hạt mưa
Áo em đã ướt sao chưa gặp người?
Liền anh, liền chị liền đôi
Chẳng còn ai lẻ cho tôi đi cùng?
Có bao nhiêu chúm môi hồng
Mà không có nụ hôn nồng cho tôi.
Ô hay! Hội đã tan rồi
Còn đâu giã bạn trên đồi chưa nghe…
(Tìm người giữa hội Lim – Đoàn Thị Lam Luyến)
Cuộc sống sống động, đa thanh đa sắc đa tình, ca dao dân ca từ cuộc sống vào thơ cũng mang thanh, sắc, tình của cuộc sống. Chính từ những thanh-sắc-tình ấy mà trái tim người nghệ sĩ vốn dĩ đa mong manh đa cảm, nay lại càng rung động mãnh liệt trước những âm vang của đời sống, ca dao dân ca từ cuộc sống đã đồng vọng với tâm hồn người nghệ sĩ, như ngọn gió thổi căng cánh buồm nghệ thuật, làm nên cảm hứng sáng tạo, giúp hạt giống nghệ thuật gieo xuống mảnh đất hiện thực nảy lên những cây tươi tốt, dâng hiến cho đời hoa thơm, quả ngọt. Với vai trò là nguồn cảm hứng sáng tác, ca dao dân ca cũng đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của văn học hiện đại.
Không chỉ có văn học mà sự tồn tại của ca dao dân ca trong đời sống hôm nay cũng ghi dấu ấn ở nhiều ngành nghệ thuật khác. Ca dao dân ca cũng trở thành nguồn chất liệu sáng tác và nguồn cảm hứng cho âm nhạc. Hiện nay chúng ta có thể loại âm nhạc dân gian đương đại với những sáng tác mang dấu ấn dân gian, với những tên tuổi ấn tượng như Nguyễn Vĩnh Tiến với “Bà tôi”, Lưu Hà An với “Con cò”. Phần nhạc của dân ca cũng trở thành chất liệu cho sáng tác âm nhạc, với nhiều tác phẩm mang làn điệu ca trù, quan họ… Hình ảnh “cánh cò lặn lội” cũng được bắt gặp trong nhiều tác phẩm hội họa. Trong nhiều vở kịch vẫn xuất hiện những khúc ru em…