Hiển thị các bài đăng có nhãn tự sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tự sự. Hiển thị tất cả bài đăng

VỀ BA LẦN CHẾT CỦA CHÍ PHÈO - phần 1



Rốt cuộc thì Chí Phèo đã chết bao nhiêu lần?

Có người sẽ cho rằng câu hỏi này vô nghĩa lý. Bởi kể từ khi kiệt tác Chí Phèo ra đời, in hằn trong tâm thức người đọc vẫn đau đáu một câu hỏi “Ai cho tao lương thiện” và cái chết thảm khốc của Chí Phèo ở cuối tác phẩm. Vả lại, đời người có thể chết được nhiều hơn một lần sao?


Nhưng không. Chí Phèo chết hơn một lần. Soi chiếu vào quan niệm về hai hình thức của cái chết được Amos Goldberg gợi ra trong bài viết “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết”, ta có thể nhận ra Chí Phèo đã chết hai lần trước khi kết thúc sợi chỉ sinh mệnh của mình. Mà cái chết cuối cùng là sự lựa chọn để chống lại hai cái chết hư vô hóa ý thức chủ thể, tức là chết đi để được sống.






TÀI LIỆU THAM KHẢO

https://lythuyetvanhoc.wordpress.com/2010/11/10/amos-goldberg-ch%E1%BA%A5n-th%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BB%B1-s%E1%BB%B1-va-hai-hinh-th%E1%BB%A9c-c%E1%BB%A7a-cai-ch%E1%BA%BFt-ph%E1%BA%A7n-1/

https://lythuyetvanhoc.wordpress.com/2010/11/11/amos-goldberg-ch%E1%BA%A5n-th%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BB%B1-s%E1%BB%B1-va-hai-hinh-th%E1%BB%A9c-c%E1%BB%A7a-cai-ch%E1%BA%BFt-ph%E1%BA%A7n-2/

http://thuykhue.free.fr/stt/t/ttdinh01.html

http://triethoc.edu.vn/vi/truong-phai-triet-hoc/chu-nghia-hien-sinh/doi-net-ve-chu-nghia-hien-sinh_15.html

http://dongtac.hncity.org/?Triet-hoc-hien-sinh-trong-giao-duc-hoc-hien-dai

http://www.sachhay.org/diem-sach/ChiTiet/2903/tu-truong-hop-doan-minh-phuong-nghi-ve-van-hoc-chan-thuong-o-viet-nam-va-quan-diem-nghien-cuu

http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Lyluanvanhoc/tabid/104/newstab/301/Default.aspx

https://www.facebook.com/pg/phuongkhanh2803/photos/?tab=album&album_id=1764015927222298

http://triethoc.edu.vn/vi/truong-phai-triet-hoc/chu-nghia-hien-sinh/doi-net-ve-chu-nghia-hien-sinh_15.html

TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT


I.                   KHÁI NIỆM CHUNG VÀ TRUYỆN[1]VÀ TIỂU THUYẾT

Truyện
Tiểu thuyết
Khái niệm
Chỉ tác phẩm văn học có bản kể miêu tả nhân vật, diễn biến, sự việc thú vị.
-Mượn từ Trung Quốc, nhưng nội hàm khái niệm chỉ một thể loại văn học phương Tây: tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian.
Giống nhau
Từ truyện đến tiểu thuyết là hai giai đoạn phát triển của cùng một loại hình văn học.
Quan hệ với bối cảnh lịch sử
Ở vị  trí thể loại văn học nằm ngoài hệ thống. “Tiểu thuyết” theo nghĩa đầu tiên là những chuyện phiếm, phân biệt với “đại thuyết” (sách Kinh điển Thánh hiền).
Ở vị trí thể loại văn học chủ đạo của nền văn học hiện đại.
Yếu tố hư cấu
Phủ nhận sự hư cấu, các tác giả cố chứng minh câu chuyện mình kể là chuyện thật.
Chấp nhận hư cấu như một yếu tốt tất yếu để khái quát những sự thật của hiện thực cuộc sống.
II.               ĐẶC TRƯNG TIỂU THUYẾT
1.      Đặc trưng nội dung
1
Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại không ngừng biến đổi, sinh thành trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân (phân biệt với sử thi)
-Đối tượng của tiểu thuyết là con người hiện tại: bạn bè, hàng xóm, đồng hương…
-Xóa bỏ khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật è Dùng kinh nghiệm cá nhân để lí giải, thể hiện nhân vật một cách gần gũi, suồng sã.
2
Tiểu thuyết có chất văn xuôi: tái hiện cuộc sống như thật, không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lý tưởng hóa. (Phân biệt với sử thi, thơ, trường ca)
-Miêu tả cuộc sống như thực tại chưa hoàn kết è tạo cho tiểu thuyết khả năng miêu tả chi tiết cuộc sống như thật.
-Tiểu thuyết thâu tóm tất cả cái ngổn ngang của đời sống.
-Tiếp thu cái hài như một đặc trưng của tiểu thuyết.
3
Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải (Phân biệt với sử thi, kịch)
-Con người tư duy, nếm trải, cảm nhận, tự chịu trách nhiệm è Nhân vật là con người trưởng thành được cuộc đời dạy.
-Con người không đồng nhất với chính nó: người địa vị cao có thể cư xử thấp, người địa vị thấp có thể cao thượng è Nhân vật là tổng hòa của chính diện – phản diện, cao thượng – đê hèn, nghiêm túc – giễu cợt.
-Phân tích tâm lý là đặc trưng của tiểu thuyết: Phép biện chứng tâm hồn.
4
Tiểu thuyết bao chứa nhiều cái “thừa”  so với truyện ngắn và truyện vừa
- Thể hiện một cách tỉ mỉ cái chính yếu về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, dựng lại chi tiết không gian và thời gian, giới thiệu tường tận tiểu sử nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và người, giữa người với thế giới xung quanh…
5
Tiểu thuyết miêu tả hiện thực như cái đương thời của người trần thuật (So với sử thi, anh hùng ca)
-Làm nên tính dân chủ của tiểu thuyết.
-Người viết tiểu thuyết đứng trên nhiều điểm nhìn, đa chủ thể, sử dụng nhiều giọng nói.
-Thực tại trong tiểu thuyết là thực tại chưa hoàn kết.
6
Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều nhất đặc điểm của các thể loại văn học khác.
-Theo Bakhtin, do ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ của thì hiện tại, chưa hoàn kết và không ngừng phát triển è Dễ dàng thấm hút các bè ngôn ngữ, các phong cách ngôn ngữ khác nhau trong xã hội è Dễ dàng thâu nhận các đặc trưng thể loại khác nhau.
2.      Đặc trưng hình thức của tiểu thuyết

TK XIX – về trước
Tiểu thuyết hiện đại
Nhân vật
-Miêu tả nhiều mặt, tinh tế chi tiết như người sống.
-Các thuộc tính của nhân vật miêu tả theo quá trình, là tổng hợp nhiều bình diện (vô thức – ý thức; tư tưởng – bản năng; xã hội – sinh học)
-Có tính cách, cá tính chỉnh thể và có quá trình phát triển.
-Số lượng tiểu thuyết không giới hạn: về mọt người, cả gia tộc, cả thế hệ, nhiều thế hệ.
-Nhân vật là người ít hay thiếu tình cảm, chỉ là một con người sống trong môi trường của mình è Tiểu thuyết hiện đại dường như quan tâm đến nhân tính hơn là nhân tình.
-Tước bỏ các yếu tố: lai lịch, địa vị, dung mạo, thậm chí cả tính cách và cái tên è Khám phá tâm hồn con người nhiều hơn: thông qua giác quan, những ấn tượng về cuộc sống,
Cách tiếp cận nhân vật
-Miêu tả qua hành động và tâm lý
-Sử dụng điểm nhìn nhân vật, hình thức độc thoại nội tâm, thủ pháp dòng ý thức, liên tưởng để tự do khám phá bản chất con người (Trào lưu tiểu thuyết “hướng nội”.
-Khai thác các yếu tố phi lý (Tiểu thuyết phi lý)
-Sử dụng huyền thoại xưa hoặc sáng tạo huyền thoại mới (tiểu thuyết huyền thoại)
Nhân vật tác giả
-Lộ diện và thuyết pháp
-Thể hiện thái độ khách quan, người kể giấu mình
Hoàn cảnh
-Khắc họa rất chi tiết.
-Chức năng đa dạng:
++Dựng khung cảnh
++Thúc đẩy nhân vật hành động
++ Bộc lộ tính cách nhân vật
++Phân tích xã hội
++Tạo không khí chung cho tác phẩm
Xuất phát từ quan điểm tồn tại là tương đối, cách giải thích vô cùng đa dạng, khó có thể đi đến tận cùng chân lý è thế giới thiếu tính xác định, tạo nên tính đa nghĩa.
-Suy giảm việc miêu tả thiên nhiên, không còn sùng kính thiên nhiên như trước.
Cốt truyện
-Phức tạp: đơn tuyến hay đa tuyến, đan bện nhiều thời gian.
-Cách kể chuyện phức tạp: ngôi thứ nhất, thứ hai thứ ba, phi tiêu điểm, nội tiêu điểm, ngoại tiêu điểm…
-Cốt truyện tự do, linh hoạt trong việc khởi đầu, kết thúc.
Kết cấu
-Chủ yếu là tổ chức điểm nhìn và trật tự sự kiện để người đọc đi vào thế giới nghệ thuật; xác lập mối quan hệ giữa người kể chuyện, nhân vật, người đọc.
-Sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri
-Điểm nhìn của nhân vật: thể hiện qua tiểu thuyết bằng thư, tiểu thuyết bằng nhật kí, qua trần thuật nửa trực tiếp và độc thoại nội tâm.
-Sử dụng điểm nhìn linh hoạt, đa dạng.
Ngôn từ
-Lời trần thuật mang tính chất đối thoại.
-Ngôn ngữ trở thành đối tượng miêu tả (NN nhân vật), xuất hiện hiện tượng nhại các thể loại, nhại các phong cách ngôn ngữ trong tiểu thuyết.
III.            ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN
Khái niệm
Hình thức tự sự cỡ nhỏ
Nội dung
-Edgard Po: “truyện ngắn là giọt nước”. Truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống con người, tạo thành một ấn tượng hoàn chỉnh.
Nhân vật
-Nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới, khắc họa như một tính cách điển hình trong tương quan với hoàn cảnh. è Hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người.
Cốt truyện
-Chức năng chính là để giúp người đọc nhận ra một điều gì, gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người.
Kết cấu
Thường là sự tương phản, liên tưởng.
Bút pháp
Chấm phá: Chọn một khía cạnh, một sự kiện, một khoảnh khắc è Yếu tố quan trọng nhất là chi tiếthành văn ẩn ý, tạo chiều sâu chưa nói hết.




[1] Truyện với tiểu thuyết là hai giai đoạn của cùng một loại hình văn học. Ở Việt Nam, các tác phẩm tự sự nhỏ hơn tiểu thuyết vẫn gọi là truyện (truyện dài, truyện ngắn, truyện vừa, truyện siêu ngắn…) nhưng thực ra truyện và tiểu thuyết là một.

ĐẶC ĐIỂM THỂ LOẠI TỰ SỰ - TRỮ TÌNH NHƯ LÀ CẦU NỐI GIỮA THƠ VÀ KỊCH



Tính chất tự sự chính là khả năng chuyển thể thành kịch của tập thơ “Old Possum’s Book of Practical Cats”:Tập thơ đã cung cấp cho vở kịch nguồn chất liệu dồi dào về: Tình tiết và nhân vật. Từ những sự kiện riêng rẽ và hệ thống 22 nhân vật có mối liên hệ khá rời rạc, các nhà làm kịch đã tái tổ chức, liên kết và lồng ghép các chất liệu thơ một cách hợp lý, sáng tạo thêm những yếu tố còn thiếu, chỉnh sửa một vài đặc trưng thơ cho phù hợp hơn với đặc trưng kịch, làm nên một tác phẩm nhạc kịch hoàn chỉnh.
Sự chuyển thể từ thơ thành nhạc kịch:

Thơ
Nhạc kịch
Chất liệu
Ngôn từ - chất liệu phi vật thể[1].

Mỗi nhân vật được hiện lên qua mô tả của nhà thơ,  bao nhiêu người đọc sẽ có bấy nhiêu hình ảnh về nhân vật tương ứng.

Nhân vật xuất hiện trong thơ hoàn toàn giống như trong đời thực, với những hoạt động, lời nói, suy nghĩ, trong phạm vi không gian, thời gian… giống thực.
Chất liệu mỹ thuật, âm nhạc, trình diễn… - chất liệu vật thể.

Nhân vật được hiện lên cụ thể qua tạo hình nhân vật: từ trang phục, cách trang điểm, đến cách diễn xuất và thần thái của người diễn viên.

Tạo hình nhân vật giữa các bản dựng khác nhau thì có thể khác nhau, nhưng trong cùng bản dựng thì dù có bao nhiêu người xem thì cũng chỉ có một tạo hình.

Nhân vật xuất hiện trong kịch đầy tính ước lệ: Từ cách diễn, đến hóa trang, đến hoạt cảnh bài hát, đến không gian và thời gian… (Bị hạn chế về không gian diễn).
Tổ chức tác phẩm
Thơ là loại hình nghệ thuật ngôn từ è việc tổ chức tác phẩm thuộc về một mình tác giả trong việc sắp xếp khéo léo giữa chất trữ tình và chất tự sự; giữa giai điệu trong ngôn ngữ và nội dung tư tưởng.
Kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp è Sự dàn dựng thể hiện ở sự kết hợp hài hòa độc đáo giữa các thể loại nghệ thuật khác nhau:

-Vũ đạo: múa đương đại, nhảy thiết hài, khiêu vũ…
-Trình diễn tạp kĩ: nhào lộn, đu dây, ảo thuật…

Mối quan hệ giữa các nhân vật
Các câu chuyện rời rạc, quan hệ không chặt chẽ, mỗi nhân vật dường như chỉ sống trong câu chuyện của chúng, không có liên hệ gì nhiều đến các nhân vật khác trong những câu chuyện khác.
-Quan hệ giữa các nhân vật rất chặt chẽ:

+Mối quan hệ cùng bầy (Jellicle cats tụ họp tại dạ vụ Jellicle để nghe thủ lĩnh đưa ra “sự lựa chọn của Jellicle”) è Tạo ra câu chuyện lớn xuyên suốt để liên kết vở kịch, từ đó các câu chuyện nhỏ trong các bài thơ được bung ra khi từng nhân vật chính của nó xuất hiện.

+Sự tương tác giữa các nhân vật cũng được thể hiện rõ (Cả đàn xua đuổi Grizabella, sợ hãi Macavity, kính trọng, yêu quý Deuteronomy…)

+Mối quan hệ giữa các nhân vật còn nhiều “khoảng trống” để người xem sáng tạo.Khán giả xem phim cũng đã dựa vào những mối quan hệ mà biên kịch sáng tạo để suy đoán mối quan hệ giữa các nhân vật[2] (Có giả thiết cho rằng Grizabella từng là người tình của Deuteronomy, thậm chí có người cho rằng Old Deuteronomy và Macavity là hai cha con – dựa vào khả năng cùng có thể làm phép của hai nhân vật này).
Xung đột
Không có xung đột xuyên suốt tác phẩm, đâu đó trong một vài câu chuyện có xuất hiện những “xung đột nhỏ” thể hiện kịch tính của riêng câu chuyện đó:

+Cuộc chiến đấu ngạt thở giữa những tên cướp biển trong Growltiger’s Last stand.

+Cuộc chiến giữa bầy chó và sự xuất hiện của chú mèo Great Rumpus trong Old Deteuronomy…

Những xung đột này chỉ có tính chất như là những tình tiết của câu chuyện, không xuyên suốt, không liên kết toàn tác phẩm,
Thông qua việc xây dựng mối quan hệ giữa các nhân vật, đã tạo ra ba xung đột chính xuyên suốt toàn bộ vở kịch:


+Xung đột giữa Old Deuteronomy và Macavity (xung đột giữa phe chính diện và phản diện)

+Xung đột giữa Grizabella và bầy đàn (xung đột giữa cá nhân và tập thể, giữa khát vọng thay đổi và cái cố hữu truyền thống)

+Xung đột giữa cái hữu hạn của đời người và cái vô hạn của cuộc đời (Xung đột ngầm).

Sự giải quyết xung đột:

XĐ1: Chiến thắng của bầy mèo trước Macavity, Old Deuteronomy trở về nhờ phép ảo thuật (triệt để)

XĐ2: Bầy đàn mở rộng bàn tay đón Grizabella (triệt để)

XĐ3: Giải pháp thoát ly đời sống, đó là thoát ly lên Heaviside Layer (không triệt để) è Bi kịch.

Ba xung đột thể hiện rõ rệt tính chất đại chúng của kịch.

Ngôn ngữ
Ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu với những phép điệp, lặp, có vần.

Ngôn ngữ thơ giàu tính khẩu ngữ nhờ hệ thống từ ngoại biên.
Kế thừa nhạc điệu, khẩu ngữ của ngôn ngữ thơ đồng thời có sự thay đổi từ ngôn ngữ thơ thành ngôn ngữ kịch (Trường hợp chuyển từ ngôi III thành ngôi I trong bài thơ về Chú mèo đường ray).

Bên cạnh ngôn ngữ hát là ngôn ngữ nói, ngôn ngữ nói giàu tính khẩu ngữ.

Sáng tạo thêm những bài hát mới để đáp ứng yêu cầu diễn tiến vở kịch (Bài hát về Grizabella, Journey to the Heaviside layer…).


Hệ thống nhân vật
Đa dạng, sống động nhưng có tính chất chung là vui tươi, hài hước (Trận chiến ác liệt của con mèo Growltiger hóa ra cũng dùng các vũ khí rất ngộ nghĩnh như là cái xẻng nướng bánh; Gumbie cat thì dạy bọn gián tập nhảy, tập đan…). Các nhân vật mèo chính là những nhân vật ngụ ngôn, đại diện cho một loại người trong xã hội, thể hiện một bài học nhân sinh nhất định è Phù hợp với thị hiếu của trẻ thơ.
-Kế thừa hệ thống nhân vật của thơ.

-Tổ chức lại hệ thống nhân vật qua việc tạo ra các mối quan hệ giữa chúng và phân tầng, cấp bậc giữa chúng:

+Old Deuteronomy trở thành thủ lĩnh loài mèo, người có quyền hạn ra phán quyết.

+Demeter trở thành nữ hoàng[3]

+Macavity trở thành kẻ phản loạn

+Growltiger không xuất hiện trong đàn, mà trở thành một vai diễn trong quá khứ của Gus.

-Sáng tạo ra một nhân vật đặc biệt: Grizablella mang số phận buồn thảm, biến Grizabella trở thành nhân vật trung tâm của tác phẩm è Vở nhạc kịch không chỉ có cái vui tươi, hài hước như tập thơ, mà đã xuất hiện yếu tố “cái bi”. è Nhạc kịch không chỉ còn hướng đến riêng đối tượng khán giả là trẻ nhỏ nữa, mà còn hướng tới người trưởng thành.

Với thơ trữ tình truyền thống, có thể nói việc chuyển thể thành kịch là rất khó khăn, bởi nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình) trong thơ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, tư tưởng, sự xuất hiện của sự kiện, cốt truyện, hệ thống nhân vật … là rất hạn chế. Nhưng với thơ tự sự - trữ tình; chất “tự sự” đã cung cấp cho tác phẩm thơ những yếu tố chất liệu mà kịch cần. Nên có thể đi đến nhận xét rằng: Tự sự - trữ tình chính là cầu nối giữa thơ và kịch.


[1] Lí luận văn học – Hà Minh Đức – chương ngôn từ nghệ thuật.
[2] Tham khảo: wikia của Cats
[3] Nguồn: wikipedia