Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Nôm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ Nôm. Hiển thị tất cả bài đăng

THỦ PHÁP SONG QUAN VÀ YẾU TỐ TỤC - THANH TRONG THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG



Cơ chế của nghệ thuật trào phúng Hồ Xuân Hương đó là dựa vào thủ pháp song quan, xây dựng những hình tượng mang ý nghĩa sóng đôi, gắn với yếu tố cái tục để làm vũ khí châm biếm. Yếu tố cái tục có thể hiểu là những yếu tố nội dung có liên quan đến vấn đề tính dục . Thủ pháp song quan là một thủ pháp nghệ thuật quen thuộc trong thi pháp Trung đại. Song quan là hai cánh cửa, ám chỉ việc sử dụng một hình tượng đa nghĩa để biểu đạt nhiều đối tượng khác nhau, mỗi cánh cửa mở ra một đối tượng (Như Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến – một cánh cửa mở ra bài vịnh món đồ chơi thiếu nhi rất sinh động, cánh cửa khác là phê phán những vị tiến sĩ không thể lo cho vận mệnh của đất nước, của thời cuộc, trong đó phảng phất chút tự trào của nhà thơ. Có thể nói, việc sử dụng thủ pháp song quan với yếu tố cái tục chiếm một phần lớn trong mảng thơ trào phúng Hồ Xuân Hương.
Yếu tố cái tục biểu hiện trong  thơ Hồ Xuân Hương cũng rất đa dạng. Trước hết có thể kể đến yếu tố cái tục gắn với thủ pháp song quan, tạo nên liên tưởng hai chiều, nửa thanh, nửa tục nhằm tạo hiệu quả trào phúng:
VỊNH CÁI QUẠT I
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dán tự bao giờ,
 Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
VỊNH CÁI QUẠT II
Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.

QUẢ MÍT
Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay”
ỐC NHỒI
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”
Có thể thấy điểm chung của những bài thơ này đó là đều dựa vào yếu tố cái tục cùng thủ pháp song quan, để từ đó mỉa mai, nói móc, nói kháy vua, chúa, hay bọn hiền nhân quân tử.
Bên cạnh đó, yếu tố cái tục cùng thủ pháp song quan, cũng được nữ sĩ họ Hồ sử dụng để miêu tả thiên nhiên:
“Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom”
(Động hương tích)
“Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu”

(Đèo ba dội)
Riêng bản thân yếu tố cái tục cũng được sử dụng rất đa dạng,  có khi nó được dùng để miêu tả vẻ đẹp của cơ thể nữ:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non”
(Bánh trôi nước)
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thợ vẽ khéo vô tình
(Đề tranh tố nữ)
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông.
(Thiếu nữ ngủ ngày)

Có thể thấy, hình tượng cơ thể nữ trong thơ Hồ Xuân Hương hiện nên tràn trề sức sống. Hình tượng cơ thể nữ trong thơ Hồ Xuân Hương mang đậm màu sắc của chủ nghĩa phồn thục. Là một người phụ nữ, nhận thức được vẻ đẹp của người phụ nữ, hơn nữa lại có cách thể hiện, ngợi cả vẻ đẹp ấy một cách táo bạo, ấn tượng, đó chính là sự thức tỉnh cái tôi cá nhân mạnh mẽ của nữ sĩ họ Hồ.
Bên cạnh đó, yếu tố cái tục còn xuất hiện như một tình huống, để nhân trong thơ bộc lộ số phận của mình:
Hỡi chị em ơi có biết không ?
Một bên con khóc một bên chồng .
Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hơ khóc dước hong
Tất cả những là thu với vén
Vội vàng nào những bống cùng bông .
Chồng con cái nợ là như thế
Hỡi chị em ơi có biết không ?
(Thân phận người phụ nữ)
“Bố cu lỏm ngỏm bò trên bụng/Thằng bé hu hơ khóc dước hong”, đó là một hình ảnh trớ trêu, dở khóc, dở cười. Cái hỗn loạn, ngược ngạo của hoàn cảnh khiến người đọc thấy hài hước. Nhưng đó lại là cái cười ra nước mắt, thân phận người phụ nữ quá éo le, quá đau khổ.
Nhu vậy, rốt cuộc, thơ Hồ Xuân Hương là thanh, hay tục?
Trước hết cần phải khẳng đỉnh rõ: Thơ Hồ Xuân Hương có yếu tố tục, nhưng không thô tục. Lí do đơn giản nhất ta có thể thấy, nghệ thuật vốn là một lĩnh vực có sức đào thải mãnh mẽ, thời gian là một người sàng lọc khắc nghiệt nhưng công bằng. Cùng với thời gian, những tác phẩm kém giá trị, những tác phẩm tồi sẽ bị quên lãng. Nếu chỉ đơn thuần là thô tục, thì liệu rằng thơ Hò Xuân Hương có thể tồn tại cho đến ngày hôm nay?
Mặt khác, cũng cần phải thấy rõ rằng, yếu tố tục trong thơ Hồ Xuân Hương chỉ đóng vai trò là một thủ pháp.  Điều gì làm nên giá trị đích thực của tác phẩm văn học? Tố Hữu từng nói: “Cuộc đời là điểm khởi đầu và điểm đi tới của văn chương”, Thạch Lam đã từng nói: “Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thể giới xấu xa, tàn nhẫn, vừa làm cho tầm hồn người đọc trong sạch hơn, phong phú hơn”. Theo quy luật của quá trình sáng tạo, tác phẩm nghệ thuật không kết thúc ở trang cuối, mà đó là lúc nó cuộc sống của nó thật sự bắt đầu, là lúc nó, thông qua bạn đọc, đi vào đời sống, và cải tạo cuộc sống. Văn học cải tạo cuộc sống để thực hiện chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ của mình, thông qua những cung bậc, tình cảm, tư tưởng mà mình gửi gắm. Chủ nghĩa Mác cho rằng: “Vũ khí phê phán, không thể thay thế phê phán bằng vũ khí, chỉ có những lực lượng vật chất mới có thể đánh đổ được lực lượng vật chất”. Văn học, một lực lượng phi vật chất, sẽ tác động vào một lực lượng vật chất khác, đó là con người. Thông qua văn học, con người được mở rộng đầu óc, được rèn luyện để có một nhân sinh quan tiến bộ, thấu hiểu cuộc sống, thấu hiểu chính bản thân mình, bứt phá khỏi giới hạn không gian và thời gian để  được sống nhiều hơn, phong phú hơn với nhiều cuộc đời khác, trái tim họ được rung  để từ đó có động lực, có sức mạnh, có khao khát, có lý tưởng cải tạo cuộc sống. Như vậy ta thấy rằng, giá trị đích thực của một tác phẩm văn học, trước hết nằm ở chiều sâu tư tưởng và tình cảm của nó, tiếp theo sau đó mới đến hình thức, thủ pháp nghệ thuật.
Nói vậy, không có nghĩa ta phủ nhận vai trò của thủ pháp nghệ thuật. Nội dung và hình thức là hai mặt không thể tách rời, nội dung là nội dung của hình thức, hình thức là hình thức của nội dung. Yếu tố cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương cũng đã chứng tỏ được là một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, bộc lộ được hết chiều sâu tư tưởng của tác nhà thơ. Cụ thể là, thông qua yếu tố cái tục, bút pháp trào phúng được hiện lên mãnh liệt, yếu tố cái cười và yếu tố đả kích được đẩy lên đỉnh điểm, khiến đối tượng bị đả kích đau điếng, tức tối, nhưng không thể làm gì khác hơn là tâm phục, khẩu phục.
Mặt khác, thơ Hồ Xuân Hương tục mà thanh: yếu tố cái tục chỉ là cách để diễn đạt lòng khát khao sống, của sự thức tỉnh ý thức cái tôi, sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp con người.
Với tư cách là một nghệ thuật sáng tạo cá thể mang tính đặc thù, văn chương đòi hỏi cái tôi của mỗi người nghệ sĩ. Gorki từng khuyên các nhà văn trẻ: “Anh có thể học ở bất kì nhà văn nào, nhưng nếu không có giọng điệu riêng, anh không bao giờ là nhà văn cả”, Nam Cao nói: “Văn học không cần những người thợ khéo tay, làm theo những kiểu mẫu đưa cho, văn học cần một người biết đào sâu, khơi những nguồn chưa ai khơi, tìm ra những gì chưa có”. Ta có thể thấy, mỗi nhà văn, để thành công và ghi dấu trong lòng bạn đọc, cần phải định hình cho mình một phong cách riêng, một thứ vân tay nghệ thuật không thể nhầm lẫn, không lặp lại người khác, và không lặp lại chính mình. Với các nhà văn trong đại thế kỉ XVIII, sự thức tỉnh của cái tôi mạnh mẽ đã làm nến những cá tính đặc biệt trong văn học, khiến họ có những vị trí quan trọng trong tiến trình văn học của Việt Nam. Với Hồ Xuân Hương, yếu tố cái tục như một thứ vân tay nghệ thuật, làm nên đặc trưng phong cách của bà.  Yếu tố cái tục, về một phương diện nào đó, chính là biểu hiện của sự thức tỉnh cái tôi, là biểu hiện cho những phong cách độc đáo, mới lạ.
Mặt khác, yếu tố cái tục còn là chìa khóa để khám phá vẻ đẹp cơ thể nữ. “Cái đẹp cứu chuộc thế giới” Dovtoiepsky, văn học là quá trình sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Tìm đến văn học, là tìm đến cuộc hành trình đi tìm cái đẹp, khám phá các vẻ đẹp của cuộc đời, để từ đó trái tim con người rung lên những khoái cảm thẩm mỹ, để trau dồi khả năng cảm thụ cái đẹp, và đỉnh điểm là khả năng sáng tạo cái đẹp.  Cái đẹp trong văn học có nhiều dạng thức khác nhau, dù có những dạng thức tưởng như khó chấp nhận nhất. Hình tượng cơ thể nữ, đặt trong bối cảnh xã hội phong kiến, là một cái đẹp như vậy. Đó là lí do người ta quy chụp cho nó cái tục. Nhưng nếu cảm nhận nó bằng đôi mắt xanh của nghệ thuật, ta chỉ thấy một vẻ đẹp thiên tính nữ vĩnh cửu, ta thấy một sức sống tràn trề, một khả năng sinh sản và tái tạo vô hạn của cuộc sống. Nếu cảm nhận được cái đẹp ấy – ta lại thấy đó là cái thanh.
Thơ Hồ Xuân Hương tục mà thanh – thanh mà tục, trong tục có thanh, trong thanh có tục. Chính cái yếu tố tục – thanh và hình tượng song quan đã biến thơ Hồ Xuân Hương thành những tấm gương chiếu yếu rọi thẳng vào tâm hồn con người. Người đọc sẽ có lúc cảm thấy khó khăn khi tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương. Có nhà nghiên cứu đã cho rằng, khi tiếp  nhận thơ Hồ Xuân Hương họ đã thất bại ngay từ đầu, vì có những địa hạt thầm kín họ chỉ có thể cảm nhận, mà không thể gọi tên ra, chỉ cần dùng từ ngữ mà chạm vào địa hạt ấy, thì đã là một sự thất bại. Như vậy đấy, sự cảm nhận ở đây, theo chừng mực nào đó, liệu có thể so sánh với giây phút đốn ngộ của thơ Thiền, chúng đều có những điều rất thanh, rất thuần khiết ẩn sâu bên trong, mà chỉ có thể cảm nhận một cách cảm tính, bằng trực giác, chứ không thể dùng lí trí, hay ngôn từ.
Yếu tố tục và thanh trong thơ Hồ Xuân Hương cũng mang những ý nghĩa hết sức lớn lao. Thứ nhất là ý nghĩa về mặt xã hội,  thơ Hồ Xuân Hương chính là một cách đấu tranh quyết liệt, táo bạo và khôn khéo của nữ sĩ họ Hồ trước hệ tư tưởng phong kiến. Chuyện phòng the ân ái, trong quan niệm phương Đông, vốn dĩ không phải là chuyện nên mang ra để bàn tán công khai. Thế nhưng cái xã hội ấy cứ kìm kẹp con người, cấm con người cả những nhu cầu bản năng nhất, cướp đi tự do của con người. Trong khi ấy, bọn hiền nhân quân tử, bọn vua chúa phong kiến, những kẻ đại diện cho xã hội, thì đeo lên mình mặt nạ đạo đức giả, ở bên trong vẫn đang vi phạm trắng trợn những điệu lệ mà mình rao giảng. Chính vì thế, bọn chúng càng cấm, càng không muốn nói, Hồ Xuân Hương càng nói, càng đụng chạm. Mà cách nói song quan, ỡm ờ mới đặc sắc làm sao! Tôi cứ nói nước đôi, nếu tâm anh trong sạch, anh sẽ thấy nó trong sạch, nếu tâm anh đen tối, anh sẽ thấy nó đen tối, cách hành xử của anh, sẽ cho biết anh là ai. Phải chăng vì lẽ đó, mà thơ Hồ Xuân Hương đã vượt qua vòng kiểm duyệt của phong kiến, và được nhân dân lưu truyền, bảo vệ qua con đường trí nhớ?
Mặt khác, về mặt nội dung tư tưởng, yếu tố cái tục chính là biểu hiện của một tấm lòng khao khát sống, khao khát hạnh phúc, khao khát tự do của chính bản thân nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhưng đồng thời đó cũng là lời thay mặt cho toàn thể phụ nữ trong xã hội, cất lên tiếng nói đòi quyền sống cho chính họ. Ở điểm này, thơ Nôm Hồ Xuân Hương, thông qua thủ pháp cái tục, đã chạm đến tinh thần nhân văn cao cả của văn học. Chính tinh thần nhân văn ấy khiến cho tác phẩm có giá trị bất diệt, là tác phẩm của mọi thời, mọi người.

Chất trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến (Phần 2)

3.4 Nghệ thuật trào phúng
Giọng điệu thơ NK có sự khác biệt với Tú Xương, Hồ Xuân Hương

Sự đời đến thế thì thôi nhỉ
Đời trước làm quan cũng thế a?










·        Giọng u-mua hóm hỉnh, nhẹ nhàng, kín đáo:
U-mua: hài hước, dí dỏm



-         Mượn một hình thức tầm thường bên ngoài để che đậy cái nội dung sâu kín bên trong:
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
(Tiến sỹ giấy)

-         Hình ảnh người con gái đương thì xuân xanh:
Người xinh cái bóng cũng tình tinh cũng…
(Đề ảnh tố nữ)





-         Nét sinh hoạt dân dã:
Thu vén giang sơn một cắp tròn
Nghìn thu sương tuyết vẫn không mòn
Biết chàng chỉ có ông Hà bá
Mỉm mép cười thầm với nước non.
(Gái rửa… bờ sông)

-         Đối tượng có chứa đựng mâu thuẫn gây cười nhưng vô hại:
Bóng người ta nghĩ bóng ta!
Bóng ta sao lại hóa ra bóng người?
(Bóng đè)
·        Giọng chân biếm sắc sảo thâm thúy:

-         Châm biếm- phê phán nhẹ nhàng với thái độ nhân hậu, khoan dung, khuyên răn
Giọng u-mua pha châm biếm
+) lối sống nhếch nhác, luộm thuộm:
Anh chẳng sang, mà cũng chẳng giàu.
Hầu bao ních, rận bâu quanh chiếu;
Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu,
Nón sơn không méo cũng không tròn.
Quần vải thô, ngại giặt ngả màu son,
Giày cóc gặm, nhặt dây đàn khâu lấy.
Phong lưu ấy, mà tình tính ấy,
Đến cô đầu, vẫn thấy lả lơi bông,
Xinh thay diện mạo anh hùng!
(Chế ông đồ Cự Lộc)
+) thói hám lợi, ky cóp:
Bổng lộc như ông không mấy nhỉ ?
Ăn tiêu nhờ được chiếc lương Tây
(Gửi ông đốc học Ngũ Sơn)
*     Kết cấu đối ngẫu: “ông- tôi”
Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giữa đồng
(Hỏi thăm quan tuần mất cướp)
*     Khuyên răn: hãy, đừng, chớ
Chuyện đời hãy đắp tai, cài trốc
Lộc thánh đừng lừa nạc bỏ xương
(Gửi ông đốc học Ngũ Sơn)
Châm biếm phê phán với ý thức lật tẩy
§   Giọng của chủ thể phát ngôn:
Vai tác giả cao hơn vai đối tượng châm biếm:
Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè,
Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe.
Ân tứ  dám đâu coi rẻ rúng,
Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe.
(Mừng ông nghè mới đỗ)

Rõ c hoa man khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
(Vịnh tiến sỹ giấy 1)
§  Giọng trống chủ thể phát ngôn:
Con gái đời này, gái mới ngoan,
Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan.
Ba vuông phất phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang.
Trời đất khéo thương chàng bạch quỉ
Giang san riêng sướng ả hồng nhan
Nghĩ càng thêm ngán trai thời loạn,
Con gái đời nay, gái mới ngoan!
(Lấy Tây)
§  Mượn giọng kẻ khác:
Chót vót trên này có một tao!
Nào tao có muốn nói đâu nào!
Da tao xanh ngắt, pha đen trắng,
Chỉ tại dì Oa vá váy vào!
(Trời nói)









v Châm biếm- phê phán với giọng gay găt phủ định
Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc
Khá khen thay làm đĩ có tông
Khắp giang hồ chẳng chốn nào không.
Suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng.
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín,
Còn một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng,
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số.
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm.
Cha đời con Đĩ Cầu Nôm.
(Đĩ cầu Nôm)
Bắt chước hay nhại lại thơ NK là điều rất khó khăn. Cái khó là ở mạch ngần ẩn kín đằng sau những câu chữ. Ngôn từ NK bình dị nhưng chứa đựng nhiều hàm ý sâu xa. Đằng sau những sắc điệu, ngữ điệu, ngôn từ biểu hiện ở bề mặt
è Đây là chất giọng của kẻ bề trên từng trải, thâm thúy. Vừa có ý ngông vừa có cái gì như chua xót, u uất. Tất cả hiện lên 1 cạch nhẹ nhàng, tự nhiên.
è Với Nguyễn Khuyến, đó là cách biểu lộ một cách kín đáo, tế nhị và đúng tinh thần của một nho sinh, không suồng sã, ồ ạt mà vẫn tuôn trào như thác, thấm như sương.

Trước khi về Yến Đổ, giọng u-mua là giọng điệu chủ đạo trong các sáng tác trào phúng của NK, chất u-mua thể hiện 1 cách hồn nhiên bản tính hóm hỉnh, thích trào lộng đùa vui của tác giả.
àChỉ trích quan lại bất tài, thi nhân chỉ ví bọn này như Tiến sĩ giấy





Lấy cảm hứng từ những sự kiện gần gũi, dễ bắt gặp trong đời sống hiện thực, NK đã thổi vào đó cái hồn mộc mạc của làng quê. Hệ thống hình tượng, hình ảnh, ngữ điệu được toát ra tự nhiên từ tâm hồn phóng khoáng.
Câu thơ lấy ý từ câu ca dao:
“ Người xinh cái bóng cũng xinh
Người ròn, cái tỉnh tình tinh cũng ròn”

NK khơi gợi bằng những hình ảnh tinh tế để người đọc tự suy nghĩ theo ý mình. Cái cười tủm tỉm nhẹ nhàng được mỗi đọc giả lựa chọn và thưởng thức theo cách họ lấp đầy vào khoảng trống nội dung.



àNụ cười kín đáo, chọc ghẹo anh kép. (Cô Sen đang ngủ dưới nhà bị anh kép chọc ghẹo. Khi cô Sen kêu lên, NK hỏi thì anh kép chống chế bảo cô Sen bị bóng đè).

Giọng chân biếm chiếm số lương lớn trong sáng tác thơ của NK và thể hiện rõ trong giai đoạn sau khi về Yên Đổ.
Trào (cười), phúng (khuyên răn). Cười để mà khuyên răn.


















Cách xưng hô bình dân, gần gũi.



Thái độ nhân hậu, bao dung



Giọng: mỉa mai, hờn mát, xỏ ngọt dành cho những kẻ thùng rỗng kêu to. Sự lỗi thời và mục ruỗng về nội dung được che đậy bằng một hình thức mới mẻ, bóng bẩy.


Sự coi thường, giễu cợt










Khách quan









Tác giả làm bài này khi đang làm gia sư cho Hoàng Cao Khải. Nhân con thứ hai là Hoàng Mạnh Trí vừa đỗ tú tài tây ở Pháp về, Hoàng Cao Khải làm tiệc mừng, mời nhiều nhà khoa bảng đến dự. Trong tiệc lấy đầu đề "Thiên hà ngôn tại!" (Trời có nói gì đâu! - chữ trong Luận ngữ) bảo các nhà khoa bảng làm thơ cho vui. Người thì nịnh bợ, người thì mỉa mai kín đáo, chỉ có Nguyễn Khuyến được mời ngồi ở hàng cao nhất, vẫn ngồi im lặng. Hoàng Cao Khải giục mãi, Nguyễn Khuyến mới đọc bài thơ này, tỏ ý khinh mạn.
3.5 Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình

3.6 Ý nghĩa tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến
Xuân Diệu” “Nhà thơ trào phúng vĩ đại không nhe răng ra mà cười, không chỉ nói bằng lời, họ ném cả trái tim họ, ném cả cuộc đời họ vào cuộc đời, cũng như nhà thơ trữ tình vĩ đại. Trong XH cũ, thơ của họ thực chất cũng là mấu và nước mặc, mực bên ngaoif cái áo trào phúng đó thôi”

Giáo sư Dương Quảng Hàm đã phát biểu về tính trào phúng trong thơ của Nguyễn Khuyến như sau  : Nguyễn Khuyến chỉ trích thói đời một cách nhẹ nhàng kín đáo, rõ ràng là bậc đại nhân quân tử muốn dùng lời văn trào phúng để khuyên răn người đời.”

è Tiếng cười NK mang ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân sinh.

-      Phải thấy rằng, tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến hết sức đặc sắc: nó nhẹ nhàng, thâm thúy không vang lên thành tiếng nhưng hết sức sâu cay. Với nững điều ông viết ra, người đọc càng nghĩ càng thấm thía cái dụng ý sâu sắc trong lời thơ. Như vậy, những sáng tác trào phúng của Nguyễn Khuyến hầu như đã điểm mặt đủ mọi đối tượng, mọi hiện tượng đáng phê phán trong xã hôi nửa thực dân, nửa phong kiến đương thời với một hệ thống giọng điệu độc đáo, đặc sắc.
-      Tiếng cười Nguyến Khuyến thực sự mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Bởi lẽ, Nguyễn Khuyến làm thơ trào phúng không phải xuất phát từ nổi đau nhân thế mà xuất phát từ tấm lòng trong sạch, cao khiết của một bậc đại nho có lòng  yêu nước kín đáo, thâm trầm tìm cách phản ứng lại những cái xấu xa đen bạc của thời thế. Chính nỗi đau về thời thế đã khiến tiếng cười của Nguyễn Khuyến mang đậm tình yêu nước, tâm huyết với cuộc đời. Bởi trào phúng thực chất là trữ tình mà ở đó tình yêu thương được thay bằng sự căm thù. Cụ thể ở đây, tình yêu nước, thương dân được thể hiện bằng sự ẩn giấu dưới sự phê phán cái rởm đời, lố lăng của buổi giao thời đã hủy hoại bao giá trị tinh thần tốt đẹp, quý giá cộng với sự tố cáo tội ác của bọn xâm lược vô nhân đạo.
-      Tiếng cười trong thơ của ông là chê người nhưng nó cũng khuyên người, những giá trị xã hội, nhân sinh trong thơ của ông dường như đã vượt qua khỏi thời đại của ông đang sống mà nó còn vươn xa đến tận bây giờ, nhắc nhở hậu thế sống tốt hơn và chắc chắn rằng những giá trị này vẫn còn sẽ tiếp tục có ích cho những thế hệ tiếp theo.



Chất trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến (phần 1)


III. Nguyễn Khuyến – nhà thơ trào phúng
3.1Nguyên nhân hiện tượng trào phúng Nguyễn Khuyến


3.2Các đối tượng trào phúng trong thơ NGUYỄN KHUYẾN

-Bọn quan lại biến chất đương thời.










·        Hiện thực quan trường và thế giới khoa bảng đổ nát và thảm hại.

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai

Mãnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi


Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh áy mới hời
Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi
(Ông nghè tháng Tám)








·        Vạch mặt hững tên quan bất tài, hống hách.
VD: Ông phỗng đá; Lời vợ anh phường chèo, Hỏi thăm quan tuần bị mất cướp, Bồ tiên thi






Nói đến quan lại bất tài, Nguyễn Khuyến lại mượn hình ảnh tiến sĩ giấy để lên tiếng công kích mỉa mai:
Mày râu vẻ mặt vang trong nước,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu.
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
(Tiến sĩ giấy)



·        Thói tham lam, hà tiện, bủn xỉn của không chỉ tên quan tuần mà các tầng lớp quan lại thời bấy giờ.

Ai rằng ông dại với ông điên
Ông dại sao ông biết lấy tiền
(Tặng một viên quan tham nhũng).

Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,
Tiên là ý chú muốn vòi xu
Từ vàng sao chẳng luôn từ bạc
Không khéo mà roi nó phết cho
(Bồ tiên thi)


Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ông.
(Hỏi thăm quan tuần mất cướp)




·        Ngay đến các quan Đốc học cũng không thoát khỏi lời công kích. Nguyễn Khuyến mạt sát Đốc học là tay sai của thực dân:
Bổng lộc như ông không mấy nhỉ.
Ăn tiêu nhờ được chiếc lương Tây.


Trong hàng khoa giáp quan lại, ngoài một số tiếp nối hào khí dân tộc, đứng lên anh dung chống Pháp, một số không sức cầm gương nhưng không chịu hợp tác với thực dân, về sống ẩn nhẩn ở nông thôn, còn lại là những kẻ đương thời theo đuổi danh lợi, cúi đầu làm tay sai cho bọn xâm lược, hoặc là những kẻ gian hùng phản bội, bất tài vô dụng cố tình bưng bịt tai mắt để giữ lấy địa vị và đục khoét nhân dân.

Hiện thực quan trường và thế giới khoa bảng đổ nát và thảm hại.
Điệp từ “cũng” kết hợp nghệ thuật liệt kê cho thấy những tiến sĩ thời bấy giờ cũng có đầy đủ từng thứ một những thứ áo xiêm diêm dúa. Họ cũng được gọi là những “ông nghè” chẳng kém ai, thế nhưng học vị danh giá, vẻ vang ấy thực chất cũng chỉ là một mảnh giấy có đóng dấu son đỏ lòe loẹt của triều đình:
Hơn thế nữa, kẻ học vị tiến sĩ, ông nghè cao quý giờ chẳng còn chút giá trị, nó mới “nhẹ” mới đơn giản làm sao khi có thể mua được bằng tiền. Cuộc mua bán này vô cùng có lợi “cái giá khoa danh ấy mới hời” bởi sự nghiệp quan trường còn có biết bao những cuộc mua bán đổi chác khác
à Tất cả bọn chúng chỉ là một lũ ngu dốt, bất tài, vô dụng leo lên được vị danh giá thực chất chỉ nhờ có đồng tiền. Tiếng cười trào phúng cất lên hóm nhẹ mà càng ngẫm càng thấy sâu cay.

Lời lẽ kín đáo được xem là một đặc tính nghệ thuật trong thi ca trào phúng của Nguyễn Khuyến. Thi nhân thường mượn một hình thức tầm thường bên ngoài để che đậy cái nội dung sâu kín bên trong. Mỗi lần muốn chỉ trích một đối tượng nào, nhà thơ thường không nêu đích danh mà chỉ dùng lối gián tiếp.





























Mượn thành ngữ "ki cóp cọp ăn” của dân gian xưa, Nguyễn Khuyến đã giúp ta hiểu sâu sắc về bộ mặt thật của bọn quan lại đương thời, những "nạn nhân" bị cướp thứ tài sản đã đi cướp!

Bán nước và ăn bám, dựa hơi bào bọn cướp nước.
-Châm biếm đả kích bọn giặc Pháp trong bài văn tế Phờ-răng-xi Gác-ni-ê, Nguyễn Khuyến làm do vua Tự Đức ủy nhiệm vụ. (P.Gác-ni-ê là tên tướng giặc bị quân cờ đen giết chết ở Cầu giấy năm 1873)

Than ôi! Một phút sa cơ, ra người thiên cổ
Nhớ ông xưa: Cái mắt ông xanh, cái da ông đỏ
Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ
Đít ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó
Ông đeo súng lục-liên, ông đi giày có mỏ
Ông ở bên Tây, ông sang bảo-hộ
Ông dẹp Cờ Đen, để yên con đỏ
Nào ngờ: Nó bắt được ông, nó chặt mất sỏ
Cái đầu ông kia, cái mình ông đó
Khốn-khổ thân ông, đù mẹ cha nó
Tôi: Vâng lệnh quan trên, cúng ông một cỗ
Này chuối một buồng, này rượu một hũ
Này xôi một mâm, này trứng một rổ
Ông có linh-thiêng, mời ông xơi hộ
Ăn uống no say, nằm cho yên chỗ
Ới ông Ngạc Nhi ơi! Nói càng thêm khổ!
-Đây là một trong những tác phẩm trào phúng gay gắt nhất của Nguyễn Khuyến. Có lẽ một phần là vì hoàn cảnh ra đời của nó: Tương truyền sau khi Garnier bị giết năm 1873, tổng đốc Hà Nội là Trần Đình Túc vâng lệnh triều đình tìm cách hoà hoãn với quân Pháp nên phải tổ chức lễ truy điệu. Nguyễn Khuyến bậc đại khoa được cử viết bài văn tế. è Văn tế vốn là thể khóc thương, nay lại viết trong hoàn cảnh hòa hoãn thế này, lòng nghi ngút căm thù đối tượng chính của bài văn tế è Tiếng khóc đáng ra phải có liền lật ngược lại thành tiếng cười.

-Âm hưởng toàn bài thơ: Vui tươi, phấn chấn với một loạt các nhịp ngắn 3/3, và mẫu vận “o” kết thúc ở đa số các dòng thơ, khác hoàn toàn với âm hưởng đau thương của văn tế.

-Xây dựgn chân dung người đã chết: Kì dị, vui nhộn, lố bịch è THủ pháp biếm họa được thể hiện một cách tài tình.

-Tiếng chửi thẳng: khốn-khổ thân ông, ĐÙ MẸ CHA NÓ. Nó ở đây là ai? Phải chăng là bọn quân Cờ đen đã chặt đầu Ngạc nhi? Bề ngoài có thể là vậy. Nhưng dựa vào ngữ cảnh toàn bài thơ, có thể có nhiều suy đoán khác hợp lý hơn: nó là chửi chính Ngạc nhi, bọn thực dân pháp, có thể là bọn triều đình bất lực, có thể là bọn tay sai phong kiến è Tiếng chửi mới ngoa ngoắt, hả hê làm sao è Nỗi căm thù lên đến đỉnh điểm.

-Gần kết bài văn tế: NK nhắn nhủ Ngạc Nhi: Ăn uống no say, nằm cho yên chỗ. Ở đây thầm hàm chứa một nỗi vui mừng đầy mỉa mai. Nếu văn tế nghĩa sĩ cần giuộc với nỗi đau thật, niềm tiếc thương thật, thì người anh hùng nông dân được dựng lên thành tượng đài bất tứ; thì ở trong trường hợp này, với tên giặc Pháp, ta có cảm giác nhà thơ chỉ muốn lấp đất xuống, chôn cho sâu, vùi tên giặc Pháp xuống bờ vực quên lãng.
- Châm biếm những hiện tượng nhốn nháo, lố lăng đương thời
·                    Sân khấu bi hài kịch: Lời anh vợ phường chèo, Đấu xảo ký văn.

Thi khéo bày ra kể có vàn,
Khéo mà lại mới, khéo vô ngần!
Kiền khôn ai đã khoan thành lỗ?
Vũ trụ qua đây mới thấy xuân.
Y phục nước ngoài coi rất lạ,
Chim muông rừng thẳm quí nào hơn.
Xứ tôi xoàng xĩnh không gì khéo,
Tượng gỗ cân đai gọi góp phần!
(Đấu xảo ký văn:Ghi những điều nghe thấy trong cuộc đấu xảo)




Vua chèo còn chẳng ra gì.
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.
(Lời vợ phường chèo)

·                    Nền giáo dục hề: Thầy đồ không giữ nết, ve vãn gái góa

Người bảo rằng thầy yêu cháu đây,
Thầy yêu mẹ cháu có ai hay!
Bắc cầu, câu cũ không hờ hững,
Cầm kính, tình xưa vẫn đắng cay.
Ở góa thế gian nào mấy mụ?
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy?
Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy,
Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.
( Thầy đồ ve gái góa)

·                    Ngày hội hề: Những lệ hội Tây nhốn nháo: là trò giải trí cho bọn thực dân nhưng thực chất là cách để chúng hạ nhục người dân nước Việt.
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo !
Bà quan tênh hếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom ghé hát chèo.
Cậy sức, cây đu nhiều chị bám;
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu.
(Hội Tây)









































·                    Quan hệ chính trị- xã hội hề
-                     Chế giễu bọn sư hổ mang:
Đầu trọc lốc bình vôi
Nhảy tót lên chùa ngồi
I a kinh một bộ
Lóc cóc mõ ba hồi
Cơm chẳng cần cá thịt
Ăn rặt oản chuối xôi
Không biết câu tình dục
Đành chịu tiếng bồ côi
(Vịnh sư)
-                     Gái đĩ hư thân trác nết:
Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?
Trời sinh ra cũng để mà chơi!
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời,
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
Đĩ bao tử càng chơi càng lịch,
Tha hồ cho khúc khích chị em cười:
Người ba đấng, của ba loài,
Nếu những như ai thì đĩ mốc.                                                                                        Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc                                                                              Khá khen thay làm đĩ có tông                                                                              Khắp giang hồ chẳng chốn nào không.
Suốt Nam Bắc Tây Đông đều biết tiếng.
Đĩ mười phương chơi cho đủ chín,
Còn một phương để nhịn lấy chồng.
Chém cha cái kiếp đào hồng,
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số.
Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm.
Cha đời con Đĩ Cầu Nôm.
(Đĩ cầu Nôm)



·        Sân khấu bi hài kịch

Khu đấu xảo mở ra, bày biện trăm thứ
Chà, khéo thật! Khéo mà lại mới!
Vừa rồi ai đục rỗng trời đất
Cho nên bây giờ mới biết vũ trụ tươi đẹp
Lối ăn mặc của người từ nước xa xôi đến thật lạ lùng
Chim thú trong rừng trở thành những món ăn ngon tuyệt
Nước nghèo khó tầm thường này không có gì khéo
Sẽ xin làm mũ áo cho người tượng gỗ.
è Đấu xảo là khi chợ triển lãm của Hà Nội thời Pháp thuộc. Mất nước nhưng vua quan vẫn vui vẻ dạo chơi, mua sắm
è Bọn vua quan thời bây giờ chỉ như một đám phường chèo rẻ tiền và đáng chế giễu.

·        Nền giáo dục hề
đã là người theo nghiệp bút nghiên, làm thầy thiên hạ mà lại còn “ đi ve thiên hạ thiếu chi thầy” cả một bộ phận trí thức đã bị tha hóa nghiêm trọng, mất hết tư cách làm thầy, ấy thế mà muốn làm hạng phàm phu tục tử cũng chẳng gan liều được đến đâu, bởi thế “thầy” mới cứ phải canh cánh trong lòng nỗi “ cầm kính, tình xưa” …






·        Ngày hội hề
Nguyễn Khuyến miêu tả không khí náo nhiệt của một ngày hội Tây tổ chức- Ta hào hứng tham gia, có âm thanh rộn rã của tiếng pháo, có màu sắc lấp lánh của ánh đèn treo, những lá cờ kéo đủ loại, dân thì nô nức tham gia thật nhìn qua đây là một lễ hội đông vui.
Dáng điệu của “bà quan” đường đường bệ bệ, ăn trước ngồi trên hoàn toàn đối ngược với “thằng bé”, gọi là thằng bé thì chắc là cậu bé ấy xuất thân từ tầng lớp “dân đen con đỏ” có thế mới thấy được hết những mảng màu đối lập trong xã hội đương thời. Đối lập từ địa vị xã hội đến cử chỉ việc làm, Nguyễn Khuyến đã chọn lọc từ ngữ dùng rất đắc, dáng ngồi của  quan bà thì “tênh hếch”, dáng đi của thằng bé thì “lom khom”; “tênh hếch” tức là đường bệ ngang tàng nhưng thực chất lại rất khiếm nhã vô duyên, trông khi những bà quan , những cậu ấm cô chiêu được đường hoàng ngồi “xem bơi trải” thì những phận “ khố rách”  như thằng bé chỉ được đi “lom khom” tức là chỉ được xem lén, vui trộm trong cuộc hội này, từ “ghé” là dừng vội lại, là ngiêng về một bên rõ ràng người dân nghèo không được hoan nghênh ở đây.
Tầng lớp thị dân cũng được nhà thơ đề cập đến trong bài, họ là những người “nhạy bén” nhất với  “ cuộc cách mạng văn hóa”, họ tham gia hẳn vào các trò chơi.
họ lại không phân biệt đước , mình đang chơi trò chơi hay chính mình trở thành trò chơi trong mắt kẻ khác. Bài thơ kết lại với giọng điệu vừa mỉa mai vừa xót xa ngao ngán, hai câu cuối bài như đã giải đáp được sự ngạc nhiên của chữ “ kìa” ở đầu bài của tác giả. Sao có những người chỉ biết “vui thế bao nhiêu” trước sự xa hoa giả tạo, trước cám dỗ đồng tiền, mà không biết “ nhục bấy nhiêu” cho chính mình là thế.
Nguyễn Khuyến đã bóc trần được những trò vui trong ngày hội Tây thực chất là làm cho đồng bào ta quên đi nỗi nhục mất nước, tham gia vào trò chơi một cách vô thức để rồi tự hạ thấp phẩm giá của mình.


·        Quan hệ chính trị- xã hội hề

Trong bài “ Vịnh sư” Nguyễn Khuyến đã một lần nữa cho ta thấy nhãn quan sắc sảo của mình khi đặc tả lại hình ảnh của một vị “chân tu” trong thời buổi nửa Tây nửa Tàu nhố nhăng, phức tạp. Cũng thật đáng buồn cười cho một nhà sư rất biết giữ thanh quy giới luật, không hề cần đến “thịt, cá” nhưng lại “Ăn rặt oản chuối xôi”

è Xã hội đổi thay kéo theo những giá trị luân lí xã hội cũng bị đảo lộn, sư không ra sư, thầy không ra thầy, nhưng đáng nói hơn ở đây là có một loại người đáng ra bị xem là loại người hạ tiên nhất thì giờ đây bỗng chốc trở nên có tiếng nói lớn lao trong xã hội.

Bởi chính cái xã hội ấy, đã tạo ra những dạng người như thế ấy, câu thơ của Nguyễn Khuyến hết sức sắc sảo, đã chỉ ra rõ nguyên nhân sâu xa của một hiện tượng xã hội chướng tai gai mắt, chính bởi vì “ bà đĩ”  ấy gặp thời.Hơn nữa, còn trở nên có thanh thế có, vậy liệu thước đo giá trị trong buổi giao thời này là cái gì ngoài thế lực đồng tiền và thú vui tầm thường. Tất cả cái vỏ bọc ảo bên ngoài, mọi người ai cũng nhìn thấy được nhưng họ bằng lòng với danh phận giả tạo đó bởi nó chính là quy tắc sống trong thời buổi nhiễu nhương lúc bấy giờ .


3.3 Tự trào

-Bức chân dung hài hước tự họa:

Cũng chẳng giàu, mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy, chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đang dở cuộc, không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!.
-Bức chân dung tự họa của Nguyễn Khuyến hiện lên thật hài hước. Tác giả tự khắc họa mình một cách hóm hỉnh bằng một loạt những phủ định: chẳng… chẳng… chẳng.. chẳng… và chốt lại hai chữ “làng nhàng”. Ấn tượng ban đầu về bức chân dung ấy là như thế, chỉ đơn giản là một con người làng nhàng, không có gì đặc biệt, được khắc họa không phải bằng những nét phác, mà lại bằng một loạt những phủ định. è Bức chân dung “ngược”.

-Đến những câu thơ sau, bức chân dung Nguyễn Khuyến còn có thêm những nét “nguệch ngoạc” khác, khi nhà thơ khéo léo, và hóm hỉnh, hé lộ thêm cho bạn đọc những tật xấu của mình: cờ, bạc, tổ tôm, rượu chè… tật xấu gì cũng đủ cả.

-“Bức chân dung xấu xí tự họa” của Nguyễn Khuyến được nhà thơ phác họa bằng một loạt những tính từ âm tính: “làng nhàng”, “chạy làng”, “gàn” è Nhà thơ như xoáy sâu vào từng điểm xấu, thói xấu của mình, từ dáng người, tính cách, đến những thói quen để chế giếu, cười cợt chính brn thân mình.

-Bức chân dung ấy trở thành tấm nền cho một thứ nghịch lý của chính cuộc đời nhà thơ:

“Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!”.

Hóa ra những tật xấu kia được miêu tả kĩ càng, tréo ngoe đến vậy, là để đối lập lại hoàn toàn với “bia xanh, bảng vàng” kết thúc bài thơ. Một sự đối lập đầy nghịch lý, “dở khóc, dở cười”. Cái cười bật lên từ những tréo nghoe, cọc cạch, một gã gàn, một gã dở, một gã bê tha làng nhàng, thế mà cũng thi đỗ, cũng bia xanh, cũng bảng vàng. Hai câu thơ cuối cất lên thoạt nhiên người đọc tưởng là một cái cười tự đắc, một cái cười giễu cợt bản thân. “Gớm cho mình nhỉ, thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!” . Rõ ràng là cái giọgn điệu cười cợt, mà kẻ hời hợt dễ nhầm là cái giọng tự đắc, khoe khoang.

Thế nhưng đi sâu vào ngôn từ, cái cười cợt cất lên đến đỉnh điểm vào đọng lại ở giọt nước mắt. Đằng sau nụ cười giễu cợt bản thân ấy là cả một nỗi u hoài đau đớn. Gớm cho mình nhỉ, câu phải là một câu nói đùa, mà nó là một lời tự trách, tự rủa xả, tự đay nghiến bản thân. Tìm hiểu hai câu thơ theo hướng này, ta thấy giọng điệu câu thơ trở nên nặng nề, đay nghiến, và đau đớn. Đó chính là nỗi đau của một nhà Nho mang trí lớn giúp nước, nhưng đành bất lực trước hoàn cảnh.

-Ẩn trong nội dung bài thơ chính là tâm trạng u hoài. Nhà thơ đã chơi chữ rất kheo léo trong cụm “không còn nước”. Nước ở đây có thể là nước cờ. Mà nước ở đây, cũng có thể là đất nước, là quốc gia. Cụm từ “đã chạy làng” ám chị việc ông trở về ở ẩn. Cách dùng từ này cho thấy một  nỗi đau xót, dằn vặt bản thân ghê gớm. “chạy làng” là việc của kẻ hèn nhát, đằng này, ông lại là một Nho sĩ, có nhiệm vụ phải gánh vác giang sơn, “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” è Ở đây có một sự dằn vặt, đay nghiến bản thân, có một sự tự trách!

-Tâm trạng tự trào ấy cũng được nhắc đến nhiều trong thơ Nguyễn Khuyến, có thể kể đến “Vịnh tiến sĩ giấy”:

“Tưởng rằng đồ thật, hóa đồ chơi” è Ông tự trách mình, tự sỉ vả mình =è Bi kịch tinh thần của một nhà Nho yêu nước.