Hiển thị các bài đăng có nhãn thể loại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thể loại. Hiển thị tất cả bài đăng

TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT


I.                   KHÁI NIỆM CHUNG VÀ TRUYỆN[1]VÀ TIỂU THUYẾT

Truyện
Tiểu thuyết
Khái niệm
Chỉ tác phẩm văn học có bản kể miêu tả nhân vật, diễn biến, sự việc thú vị.
-Mượn từ Trung Quốc, nhưng nội hàm khái niệm chỉ một thể loại văn học phương Tây: tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian.
Giống nhau
Từ truyện đến tiểu thuyết là hai giai đoạn phát triển của cùng một loại hình văn học.
Quan hệ với bối cảnh lịch sử
Ở vị  trí thể loại văn học nằm ngoài hệ thống. “Tiểu thuyết” theo nghĩa đầu tiên là những chuyện phiếm, phân biệt với “đại thuyết” (sách Kinh điển Thánh hiền).
Ở vị trí thể loại văn học chủ đạo của nền văn học hiện đại.
Yếu tố hư cấu
Phủ nhận sự hư cấu, các tác giả cố chứng minh câu chuyện mình kể là chuyện thật.
Chấp nhận hư cấu như một yếu tốt tất yếu để khái quát những sự thật của hiện thực cuộc sống.
II.               ĐẶC TRƯNG TIỂU THUYẾT
1.      Đặc trưng nội dung
1
Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại không ngừng biến đổi, sinh thành trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân (phân biệt với sử thi)
-Đối tượng của tiểu thuyết là con người hiện tại: bạn bè, hàng xóm, đồng hương…
-Xóa bỏ khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật è Dùng kinh nghiệm cá nhân để lí giải, thể hiện nhân vật một cách gần gũi, suồng sã.
2
Tiểu thuyết có chất văn xuôi: tái hiện cuộc sống như thật, không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lý tưởng hóa. (Phân biệt với sử thi, thơ, trường ca)
-Miêu tả cuộc sống như thực tại chưa hoàn kết è tạo cho tiểu thuyết khả năng miêu tả chi tiết cuộc sống như thật.
-Tiểu thuyết thâu tóm tất cả cái ngổn ngang của đời sống.
-Tiếp thu cái hài như một đặc trưng của tiểu thuyết.
3
Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải (Phân biệt với sử thi, kịch)
-Con người tư duy, nếm trải, cảm nhận, tự chịu trách nhiệm è Nhân vật là con người trưởng thành được cuộc đời dạy.
-Con người không đồng nhất với chính nó: người địa vị cao có thể cư xử thấp, người địa vị thấp có thể cao thượng è Nhân vật là tổng hòa của chính diện – phản diện, cao thượng – đê hèn, nghiêm túc – giễu cợt.
-Phân tích tâm lý là đặc trưng của tiểu thuyết: Phép biện chứng tâm hồn.
4
Tiểu thuyết bao chứa nhiều cái “thừa”  so với truyện ngắn và truyện vừa
- Thể hiện một cách tỉ mỉ cái chính yếu về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, dựng lại chi tiết không gian và thời gian, giới thiệu tường tận tiểu sử nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và người, giữa người với thế giới xung quanh…
5
Tiểu thuyết miêu tả hiện thực như cái đương thời của người trần thuật (So với sử thi, anh hùng ca)
-Làm nên tính dân chủ của tiểu thuyết.
-Người viết tiểu thuyết đứng trên nhiều điểm nhìn, đa chủ thể, sử dụng nhiều giọng nói.
-Thực tại trong tiểu thuyết là thực tại chưa hoàn kết.
6
Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều nhất đặc điểm của các thể loại văn học khác.
-Theo Bakhtin, do ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ của thì hiện tại, chưa hoàn kết và không ngừng phát triển è Dễ dàng thấm hút các bè ngôn ngữ, các phong cách ngôn ngữ khác nhau trong xã hội è Dễ dàng thâu nhận các đặc trưng thể loại khác nhau.
2.      Đặc trưng hình thức của tiểu thuyết

TK XIX – về trước
Tiểu thuyết hiện đại
Nhân vật
-Miêu tả nhiều mặt, tinh tế chi tiết như người sống.
-Các thuộc tính của nhân vật miêu tả theo quá trình, là tổng hợp nhiều bình diện (vô thức – ý thức; tư tưởng – bản năng; xã hội – sinh học)
-Có tính cách, cá tính chỉnh thể và có quá trình phát triển.
-Số lượng tiểu thuyết không giới hạn: về mọt người, cả gia tộc, cả thế hệ, nhiều thế hệ.
-Nhân vật là người ít hay thiếu tình cảm, chỉ là một con người sống trong môi trường của mình è Tiểu thuyết hiện đại dường như quan tâm đến nhân tính hơn là nhân tình.
-Tước bỏ các yếu tố: lai lịch, địa vị, dung mạo, thậm chí cả tính cách và cái tên è Khám phá tâm hồn con người nhiều hơn: thông qua giác quan, những ấn tượng về cuộc sống,
Cách tiếp cận nhân vật
-Miêu tả qua hành động và tâm lý
-Sử dụng điểm nhìn nhân vật, hình thức độc thoại nội tâm, thủ pháp dòng ý thức, liên tưởng để tự do khám phá bản chất con người (Trào lưu tiểu thuyết “hướng nội”.
-Khai thác các yếu tố phi lý (Tiểu thuyết phi lý)
-Sử dụng huyền thoại xưa hoặc sáng tạo huyền thoại mới (tiểu thuyết huyền thoại)
Nhân vật tác giả
-Lộ diện và thuyết pháp
-Thể hiện thái độ khách quan, người kể giấu mình
Hoàn cảnh
-Khắc họa rất chi tiết.
-Chức năng đa dạng:
++Dựng khung cảnh
++Thúc đẩy nhân vật hành động
++ Bộc lộ tính cách nhân vật
++Phân tích xã hội
++Tạo không khí chung cho tác phẩm
Xuất phát từ quan điểm tồn tại là tương đối, cách giải thích vô cùng đa dạng, khó có thể đi đến tận cùng chân lý è thế giới thiếu tính xác định, tạo nên tính đa nghĩa.
-Suy giảm việc miêu tả thiên nhiên, không còn sùng kính thiên nhiên như trước.
Cốt truyện
-Phức tạp: đơn tuyến hay đa tuyến, đan bện nhiều thời gian.
-Cách kể chuyện phức tạp: ngôi thứ nhất, thứ hai thứ ba, phi tiêu điểm, nội tiêu điểm, ngoại tiêu điểm…
-Cốt truyện tự do, linh hoạt trong việc khởi đầu, kết thúc.
Kết cấu
-Chủ yếu là tổ chức điểm nhìn và trật tự sự kiện để người đọc đi vào thế giới nghệ thuật; xác lập mối quan hệ giữa người kể chuyện, nhân vật, người đọc.
-Sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri
-Điểm nhìn của nhân vật: thể hiện qua tiểu thuyết bằng thư, tiểu thuyết bằng nhật kí, qua trần thuật nửa trực tiếp và độc thoại nội tâm.
-Sử dụng điểm nhìn linh hoạt, đa dạng.
Ngôn từ
-Lời trần thuật mang tính chất đối thoại.
-Ngôn ngữ trở thành đối tượng miêu tả (NN nhân vật), xuất hiện hiện tượng nhại các thể loại, nhại các phong cách ngôn ngữ trong tiểu thuyết.
III.            ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN
Khái niệm
Hình thức tự sự cỡ nhỏ
Nội dung
-Edgard Po: “truyện ngắn là giọt nước”. Truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống con người, tạo thành một ấn tượng hoàn chỉnh.
Nhân vật
-Nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới, khắc họa như một tính cách điển hình trong tương quan với hoàn cảnh. è Hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người.
Cốt truyện
-Chức năng chính là để giúp người đọc nhận ra một điều gì, gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người.
Kết cấu
Thường là sự tương phản, liên tưởng.
Bút pháp
Chấm phá: Chọn một khía cạnh, một sự kiện, một khoảnh khắc è Yếu tố quan trọng nhất là chi tiếthành văn ẩn ý, tạo chiều sâu chưa nói hết.




[1] Truyện với tiểu thuyết là hai giai đoạn của cùng một loại hình văn học. Ở Việt Nam, các tác phẩm tự sự nhỏ hơn tiểu thuyết vẫn gọi là truyện (truyện dài, truyện ngắn, truyện vừa, truyện siêu ngắn…) nhưng thực ra truyện và tiểu thuyết là một.

GIỚI THIỆU VỀ THƠ


I.                   KHÁI NIỆM
Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.
II.                PHÂN LOẠI
1.      Thơ trữ tình và thơ tự sự
Thơ trữ tình
Thơ tự sự
-Bộc lộ tình cảm thông qua chủ thể trữ tình (nv trữ tình)
-Nv trữ tình đôi khi biểu hiện cái tôi nghệ thuật của tác giả.
-Ngoài ra còn có các nhân vật trong tác phẩm trữ tình – đối tượng nhà thơ gửi gắm tình cảm; nguyên nhân trực tiếp khơi dậy tình cảm tác giả (em Lượm, mẹ Suốt, Ông đồ, người lính…)
-Thơ có cốt truyện hoàn chỉnh với nhân vật, sự kiện, cốt truyện diễn biến trong không gian,thời gian.
-Phản ánh đời sống qua nhân vật, sự kiện, cốt truyện.
-Phân biệt thơ tự sự với thơ trữ tình có yếu tố tự sự (Núi đôi, Bếp lửa, Ánh trăng…)

2.      Thơ kịch
-          Viết ra để diễn, nhưng chủ yếu là để đọc.. Lời thoại mỗi nhân vật nói chung là khúc trữ tình hay triết lý nhân sinh. Ví dụ: Faust (Goethe), Giấc mơ (Nguyễn Đình Thi)…
3.      Thơ luật và thơ tự do
Thơ luật: Thơ tuân theo luật định. Ví dụ: Thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát…
Thơ tự do: thơ không theo luật định. Ví dụ: Thơ cổ thể, thơ bảy chữ, năm chữ hiện đại…
III.             ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ
1.      Đặc trưng về nội dung
Đặc trưng

Thơ là sự bộc lộ một cách mãnh liệt tình cảm đã được ý thức
- Tình cảm trong thơ bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy” (Tố Hữu).
- Tình cảm trong thơ là tình cảm mạnh mẽ: Sự giày vò, dữ dội bên trong, sự rúng động tâm hồn.
-Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những hoàn cảnh, sự kiện làm chấn động tâm hồn nhà thơ.
-Tình cảm trong thơ là tình cảm siêu thăng, soi chiếu dưới lý tưởng thời đại: tình cảm lớn, đẹp, cao thượng, thấm nhuần bản chất nhân văn, chính nghĩa.
Thơ – nghệ thuật của trí tưởng tượng
-thơ xây dựng hình tượng của bản thân dòng ý thức, cảm xúc đang diễn ra è tưởng tượng chủ yếu là liên tưởng; huyễn tưởng.
+Liên tưởng: từ việc này  nghĩ đến việc khác (So sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản).
+Huyễn tưởng: Mượn giấc mơ, ảo giác để thể hiện cảm xúc.
Tính cá thể hóa tình cảm trong thơ
-Thơ bao giờ cũng biểu hiện cái tôi tác giả của nó, dù tác giả có ý thức hay không.
-Cái tôi trong thơ và cái tôi đường thường thống nhất nhưng không đồng nhất.
-Cảm xúc trong thơ không chỉ là cảm xúc cá nhân, mà là cảm xúc của một lớp người, của một thế hệ, của một thời đại, của một xã hội.
Chất thơ của thơ
-Chất thơ nằm ở ý ngoài lời. “Thơ là ý tại ngôn ngoại”. “Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cá im lặng đó, thì có những tiếng dội rất đa dạng và tinh tế” (Tố Hữu).

2.      Đặc trưng về hình thức
Đặc trưng

Thơ biểu hiện bằng biểu tượng, ý tượng (Tính họa)

-Thơ biểu hiện bằng những hình ảnh mang nghĩa, bằng những ý tượng, hình ảnh ngụ ý.
- Biểu tượng trong thơ không liên tục, có nhiều khoảng trắng để người đọc suy nghiệm.
- Biểu tượng giúp người nghệ sĩ nắm bắt trực tiếp các cảm xúc, ý niệm; không cần phải kể lể dông dài è đảm bảo tính hàm súc.
-Mỗi loại thơ khác nhau có biểu tượng khác nhau, các biểu tượng không lặp lại ở những nhà thơ khác nhau.
Ngôn từ thơ có cấu tạo đặc biệt
-Đó là ngôn từ có nhịp điệu, thể hiện ở việc ngắt dòng thơ.
-Ngôn từ có tính nhảy vọt, gián đoạn, để tạo nhiều tầng nghĩa
++ý tưởng giữa các dòng thơ không theo mạch logic, mà đứt đoạn theo mạch tình cảm.
++Ngôn từ thơ không tuyến tính mà phức hợp (đa nghĩa)
++Ngôn từ thơ dùng nhiều ẩn dụ, hoán dụ, tỉnh lược ngôn ngữ.
++Ngôn từ thơ có nhiều sự kết hợp bất ngờ theo nguyên tắc lạ hóa.
-Ngôn từ thơ giàu nhạc tính
++Phối nhịp, phối thanh,hiệp vần
++ Kết hợp các âm vang, khép
è Tính nhạc của thơ là tính nhạc của cảm xúc.

 

THỂ LOẠI VĂN HỌC


I.                   Khái niệm
-          Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình tác phẩm. Trong đó ứng với một loại nội dung nhất định là một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một  hình thức tồn tại chỉnh thể.
II.                Thể loại – hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học
Khái niệm
-Trong mỗi thể loại có sự thống nhất, quy định lẫn nhau giữa các yếu tố đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng và hình thức nhân vật, hình thức kết cấu, hình thức lời văn.
-Nói đến thể loại là nói đến:
+Một nguyên tắc tổ chức tác phẩm.
+Một phương thức thể hiện thực tại.
+Một loại hình giao tiếp thẩm mỹ.
Nguyên nhân
-Với tư cách là một phương thức thể hiện thực tại, mỗi thể loại là kết quả của một phương thức chiếm lĩnh thực tại khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau, mang những khả năng khác nhau trong việc biểu hiện thực tại.
-Với tư cách là một loại hình giao tiếp thẩm mỹ, mỗi thể loại văn học là một kênh giao tiếp riêng với bạn đọc, đòi hỏi ngôn ngữ riêng, nguyên tắc riêng, phương thức và kinh nghiệm riêng.
Biểu hiện
-Sự lặp đi lặp lại có quy luật các yếu tố của tác phẩm (tiêu chí phân loại)
-Sự độc đáo trong việc vận dụng thể loại của tác giả.

III.             Tính chất của thể loại
1.      Tính thời đại, lịch sử
Biểu hiện
Ví dụ
-Sự hình thành và phát triển thể loại văn học cũng là sự hình thành và phát triển của văn học qua các giai đoạn.
Khởi đầu
Xác định bằng:
+Nhu cầu xã hội
+Nhu cầu sinh hoạt văn hóa
+Trải nghiệm thực tiễn của nghệ sĩ
Phát triển
Hình thành thể loại cụ thể, đáp ứng nhu cầu thời đại, ứng dụng vào đời sống.
Kết thúc
Không còn đáp ứng được nhu cầu thời đại, hoặc biến mất vào thể loại khác hoặc chấm dứt sự tồn tại.
Sự phát triển của lịch sử văn học Trung quốc là sự tiếp nối của các thể loại.
-Mỗi thể loại sẽ có thể đậm nét đặc trưng của thời đại (cách thể hiện hiện thực, cách diễn đạt, phụ thuộc vào ý thức hệ và thị hiếu người đọc).
-Các thể loại VHTĐ phải đáp ứng đặc trưng: Tính sùng cổ, tính phi ngã, sử dụng điển tích, điển cố.
-Trong mỗi thời đại có sự phân chia các nhóm thể loại khác nhau, mỗi thể loại có chức năng riêng của mình và tác động qua lại lẫn nhau.
-Cách chia thể loại cao – thấp: (bi kịch hơn hài kịch; văn học viết hơn văn học truyền miệng).
-Các thể loại cao – thấp tác động qua lại lẫn nhau.

2.      Tính dân tộc
Nội dung
-Thể hiện tâm lý, tình cảm, truyền thống dân tộc.
Hình thức
-Cách sử dụng ngôn ngữ được dân tộc đó ưa chuộng.

3.      Tính quy luật loại hình

Nguyên nhân
Biểu hiện
Thể loại có tính chất ổn định, truyền thống
-Tính hữu hạn của ngôn ngữ
-Tính hữu hạn của phương thức chiếm lĩnh hiện thực (nghe kể chuyện, tự mình chứng kiến, tự mình bộc bạch cảm xúc…)
-Tính hữu hạn của các phạm trù thẩm mỹ (cái bi, cái hài, cái cao cả…)
-Thể hiện một giới hạn tiếp xúc đời sống, một góc nhìn, một cách tiếp cận, một trường quan sát, một quan niệm với hiện thực.
-Một quy luật tổ chức tác phẩm.
-Thể loại văn học có bản chất siêu cá tính: tồn tại tương đối ổn định vs tác phẩm; khẳng định vai trò của các yếu tố ổn định trong lịch sử văn học; phản ánh phương diện hữu hạn của một ý thức nghệ thuật.
Thể loại có tính chất biến đổi
-Quy luật phát triển theo hình xoắn ốc của vật chất.
-Nhu cầu xã hội luôn thay đổi đòi hỏi thể loại phải thay đổi để phục vụ thời đại mới.
-Bản chất của hoạt động sáng tác là quá trình sáng tạo có tính cá thể è Nhà văn luôn tìm tòi, đổi mới, thể hiện dấu ấn cá nhân trong việc vận dụng thể loại.
-Biến đổi những đặc trưng về hình thức và nội dung của thể loại để phù hợp với nội dung tư tưởng của người nghệ sĩ, với yêu cầu của thời đại.



IV.           Việc phân chia thể loại có tính chất tương đối vì:
-         Thể loại luôn biến đổi theo tiến trình phát triển của xã hội và lịch sử văn học.
-         Tiêu chí phân loại rất đa dạng
-         Sự tồn tại của các tác phẩm trung gian (truyện ngắn trữ tình hóa; truyện ngắn tiểu thuyết hóa; thơ tự sự…) khiến việc phân loại không thể tuyệt đối chính xác.
V.               Cách phân chia thể
-         Hình thức lời văn (văn vần, văn biền ngẫu, văn xuôi)
-         Dung lượng (tiểu thuyết, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn)
-         Cảm hứng chủ đạo (hài kịch – bi kịch; tụng ca – thơ trào phúng)
-         Nội dung (lịch sử, thế sự, đời tư)
VI.           Ý nghĩa của các thể loại với văn học
Với quá trình sáng tác
-Khơi nguồn cảm hứng (Viết cái gì? Viết như thế nào?)
-Gắn liền với nhà văn thành “tư duy thể loại”:
++ Mỗi nhà văn có một thể mạnh thể loại khác nhau.
++ Có sự vận dụng và biến đổi các thể loại
Với quá trình phê bình, thưởng thức
-Khi đọc phải tuân theo quy luật thể loại
-Hiểu biết thể loại cung cấp chìa khóa để khám phá chiều sâu tác phẩm
-Quyết định năng lực bình, cảm thụ (Người quá quen với đọc thơ cổ điển sẽ gặp khó khăn khi tiếp nhận thơ siêu thực…)
-Mỗi bạn đọc có một sở trường trong việc đọc từng thể loại.


VII.           Các truyền thống phân loại thể loại

Tiêu chí phân loại
Các thể loại cụ thể
Phương Tây
(chia ba)
Yêu cầu miêu tả tính cách và thể hiện mình của nhà văn
-Tự sự: tái hiện hiện thực bằng cách miêu tả sự kiện
-Trữ tình: trực tiếp bày tỏ cảm xúc
-Kịch: tái hiện hiện thực qua xung đột kịch
Phương thức sáng tạo hình tượng nghệ thuật
-Tự sự: qua lời nói của tác giả
-Trữ tình: qua lời nhân vật trữ tình
-Kịch: qua lời nói và hành động kịch
è  Chú trọng yếu tố chủ thể và đặc trưng nội dung, bỏ qua hình thức.
Phương Đông (chia bốn)
-Tiêu chí truyền thống Trung Quốc: chủ yếu qua các yếu tố bên ngoài như hình thức thể văn, công dụng.
-Kết hợp với các tiêu chí phương Tây
+Thơ: Bao gồm thơ tự sự và thơ trữ tình.
+Tiểu thuyết: Tất cả tác phẩm tự sự.
+Kịch: Nghệ thuật sân khấu
+Văn xuôi: Các thể loại còn lại.
Cách chia 4 + 1
-Tuân theo cách chia của phương Đông, tách riêng thể kí ra vì tính phi hư cấu của nó.
Thơ: (Như trên)
Tiểu thuyết: (Như trên)
Kịch: (Như trên)
Văn xuôi: (Như trên)
Kí: Tác phẩm tự sự ghi chép sự thật.